
Giới thiệu bài giảng
Bản phiên âm
Nhấn vào mốc thời gian để nghe từ đoạn đó. Bản dịch tự động, có thể chưa chính xác. Bạn có thể đề xuất sửa từng câu. Phiên âm là văn bản kèm theo, không thay đổi âm thanh.
Tôi đến Mỹ để nghỉ.
Nghỉ ư? Tôi đã làm việc rất nhiều, suốt 2 năm liền, không có ngày nghỉ nào.
Nên năm nay tôi nghĩ, à, mình cũng đáng được nghỉ một chút.
Vậy nên
tôi định đi đây đi đó, và tôi rời Miến Điện ngày 30 tháng Tư, ở Singapore 1 tuần,
rồi 5 hay 6 tuần ở Anh, và 3 hay 4 tuần, tôi nghĩ vậy, ở Bờ Đông, rồi 1 tuần ở Canada, Toronto, và
10 hay 11 ngày ở Los Angeles, và giờ thì 2 tuần ở vùng Vịnh. Một kỳ nghỉ khá đấy chứ.
Tôi đến không chỉ để nói chuyện với các bạn; tôi cũng đến để lắng nghe các bạn.
Cả đời tôi là một người học, vẫn còn muốn học thêm.
Cuộc đời là một ngôi trường.
Chúng ta luôn học hỏi và thay đổi, và cũng thay đổi và tiến bộ. Không thay đổi thì không tiến bộ. Nên chúng ta luôn học hỏi, thay đổi và tiến bộ. Ồ, đây là một câu hỏi rất hay. Billy, 6 tuổi. Billy đâu rồi? À.
Một số câu hỏi rất
nghiêm túc.
Thôi thì, ta hãy bắt đầu buổi pháp đàm bằng việc tụng motta-za, đó là cách ngắn nhất để mở đầu một buổi pháp đàm, và tôi nghĩ đó là cách hay nhất. Vậy nên—
Namo tassa, bhagavato, arahato, samma, sambuddhassa. Namo tassa, bhagavato, arahato, samma, sambuddhassa. Namo tassa, bhagavato, arahato, samma, sambuddhassa.
Tôi mong các bạn hiểu ý nghĩa của câu ấy, vì hiểu được điều mình nói, điều mình tụng, là rất quan trọng.
Ý nghĩa, nói gọn, là: Con xin đảnh lễ Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác.
Vậy trước khi trả lời các câu hỏi,
tôi nghĩ mình sẽ
kể ra vài khó khăn của tôi
trong
giai đoạn đầu khi tôi mới tu tập, khi tôi đang lớn lên và cố tìm một cách sống có ý nghĩa cho đời mình, cố tìm một điều gì đó để sống vì nó. Nên
tôi nghĩ một số các bạn cũng có cùng khó khăn ấy,
vì ai muốn tìm cách sống tốt nhất, hay cách sống có ý nghĩa, thì đều gặp rất nhiều khó khăn.
Vậy bắt đầu từ đâu?
Khi tôi còn nhỏ, khi tôi đi học, học đọc, tôi được vài vị thầy khuyến khích đọc sách, và tôi rất biết ơn các thầy ấy. Một trong số đó là thầy Francis, và thầy vẫn còn sống. Tôi nghe nói thầy vẫn còn sống. Khá già rồi, hơn 80 tuổi.
Và một vị thầy khác,
tôi không biết còn sống hay không, tên thầy
là Brother Thomas, một tu sĩ Công giáo người Ireland, rất tốt bụng, rất vui vẻ, rất thân thiện. Nên hầu hết các cậu bé đều rất thương Brother Thomas, và thầy cũng chơi bóng đá hay nữa.
Thầy khuyến khích chúng tôi học, đọc sách, và chúng tôi có một nhóm học đặc biệt để học văn học Anh và cả triết học. Và chúng tôi không phải thi cho những lớp đó, vì đó là những lớp ngoại lệ.
Tôi được chọn làm một trong những học sinh ở đó. Vì tôi yêu đọc sách, tôi dự các lớp ấy đều đặn, không muốn bỏ lớp nào, vì những lớp đó thú vị và có ý nghĩa hơn các lớp thường.
Trong các lớp đó, chẳng hạn, thầy sẽ bật một đĩa hát
ghi một bài thơ do chính tác giả đọc, do chính nhà thơ đọc. Nên chúng tôi được nghe giọng nhà thơ đọc thơ của mình. Rất thú vị. Và chúng tôi có phim, có đèn chiếu. Và những vị thầy ấy khuyến khích chúng tôi đọc sách về nhiều đề tài khác nhau.
Và một lời khuyên các thầy cho chúng tôi là: nếu con đọc một cuốn sách, hãy cố tìm một cuốn khác có quan điểm đối lập.
Đừng chỉ đọc một cuốn. Vì nếu con chỉ đọc một quan điểm hay một phía, con sẽ bị mắc vào quan điểm đó. Nó sẽ làm tâm con hẹp lại. Con trở nên, nói thế nào nhỉ,
cứng nhắc trong suy nghĩ. Nên mỗi khi đọc một cuốn sách, hãy tìm một cuốn khác có quan điểm khác.
Tôi rất thích kiểu tư tưởng đó. Nên mỗi khi đọc một cuốn, tôi sẽ cố tìm một cuốn khác trong thư viện, tác giả khác, quan điểm khác. Và
khi đọc càng nhiều sách, tự nhiên tôi cũng đọc sách về lịch sử. Và khi đọc lịch sử, bạn đọc về một đất nước và cũng đọc về tôn giáo nữa.
Nên tôi đọc lịch sử Phật giáo, lịch sử Ấn Độ, lịch sử Tích Lan, lịch sử Phật giáo ở Tích Lan—tức là Sri Lanka, bây giờ họ có tên khác—Sri Lanka, và lịch sử châu Âu, lịch sử Kitô giáo. Và mới gần đây tôi đọc một cuốn khác về
Do Thái giáo. Rất thú vị.
Về—như thế nào—Moses.
Một cuốn sách rất thú vị. Ông ấy đã trở thành người lãnh đạo như thế nào, và những khó khăn của việc làm người lãnh đạo.
Nên tôi đọc nhiều sách về các tôn giáo khác nhau, nhiều sách về các triết học khác nhau, các loại tâm lý học khác nhau, và cả những tư tưởng phương Đông nữa. Nhiều sách về tôn giáo Trung Hoa. Tôi đọc sách về Khổng Tử, Lão Tử, Thiền tông.
Vậy nên tôi được tiếp xúc với rất nhiều tư tưởng khác nhau, và mọi tư tưởng đều rất thú vị đối với tôi. Và khi tôi đang đọc
những cuốn sách về giáo pháp của Đức Phật, bởi vì
thật khó cho tôi khi nói rằng đó là Phật giáo, bởi vì Buddha và "ism", tôi nghĩ, không đi chung với nhau cho lắm.
Nhưng dù sao, khi tôi đọc sách về giáo pháp của Đức Phật, tôi trở nên rất thích thú, nhất là khi tôi đọc về câu chuyện cuộc đời Đức Phật. Tôi rất
được truyền cảm hứng và
cảm thấy rất bị thu hút bởi cuộc đời của Ngài, bởi nhân cách của Ngài.
Và có một câu kệ mà hôm nay tôi muốn nói đến, hay muốn thảo luận,
câu kệ mà tôi đã gặp và đã khiến tôi có nhiều
đêm mất ngủ, có thể nói như vậy,
đó là Đức Phật nói: "Atta hi, atta no natto. Ko hi natto prothiya." Đây là cách người Miến Điện phát âm. "Atta hi, atta no natto. Ko hi natto prothiya."
Chính bạn là nơi nương tựa của chính bạn. Làm sao có ai khác có thể là nơi nương tựa của bạn?
Nên khi tôi gặp câu kệ đó, tôi rất thích. Nhưng là một cậu bé
không có đủ hiểu biết để quyết định điều gì đúng, điều gì sai, đó là một tình huống rất khó. Làm sao tôi có thể nương tựa vào chính mình? Tôi không biết đủ. Làm sao tôi có thể quyết định một điều gì đó là đúng hay sai?
Và Đức Phật
nói tiếp. Phần thứ hai của câu kệ là: "Atta nahi tu dante na natta labhati tolaban." Bằng cách
tự huấn luyện mình cho tốt. Đây là bản dịch theo nghĩa chữ. "Tu dante na" nghĩa là huấn luyện cho tốt. Bằng cách tự huấn luyện mình cho tốt, người ta có thể đạt được nơi nương tựa khó đạt được ấy, nơi nương tựa khó có được ấy.
Nên tôi thích ý tưởng rằng mỗi người nên là nơi nương tựa của chính mình. Bởi vì từ khi còn là một cậu bé, tôi đã thích sự tự do. Tôi thích sự độc lập. Và đó là động lực mạnh nhất trong đời tôi, được tự do, được độc lập.
Và tôi nghĩ phần lớn người Mỹ đều thích ý tưởng đó.
Tự do và độc lập.
Và
ngay cả khi đọc sách, tôi cũng muốn giữ sự tự do của mình. Tôi không muốn bị quan điểm của tác giả lừa mị.
Nên đó là lý do mỗi khi tôi đọc một tư tưởng nào, tôi sẽ cố tìm một cuốn sách khác trình bày tư tưởng khác, hay những tư tưởng đối lập.
Nên trong tâm tôi có một cuộc tranh luận đang diễn ra. Luôn luôn có một cuộc tranh luận diễn ra trong tâm tôi. Luôn hỏi, luôn nghi. Nên tôi là một người hoài nghi, và tôi vẫn còn là một người hoài nghi.
Và
dùng chữ "hoài nghi" làm tôi nhớ đến một cuốn sách tôi đã đọc của nhà triết học
Bertrand Russell, và cuốn sách đó tên là "Skeptical Essays" (Những bài luận hoài nghi). Tôi đã đọc nhiều sách của Bertrand Russell vì tôi thích đọc sách triết học, và sách của ông tôi thấy dễ đọc, dễ hiểu hơn, và cũng thú vị nữa. Văn phong của ông rất hay.
Nên khi tôi đọc những cuốn sách này và
cũng đọc những bài luận hoài nghi ấy, tôi thích chữ "hoài nghi" và cố gắng trở thành người hoài nghi, một kẻ hoài nghi. Không sẵn sàng tin vào bất cứ tư tưởng nào. Luôn tự mình suy nghĩ và chất vấn mọi tư tưởng. Nên bởi vì tôi chất vấn mọi tư tưởng và đặt câu hỏi, tôi gặp rắc rối nhiều lần với cha mẹ tôi, với các thầy giáo của tôi, và tôi bị buộc tội, bị gọi bằng nhiều cái tên xấu.
Và một trong những cái tên đó là họ gọi tôi là người cộng sản.
Bởi vì tôi không tin vào điều gì cả. Làm sao tôi có thể tin vào một điều mà tôi không chắc chắn? Tôi không biết nó có thật hay không. Và nếu tôi tin vào điều gì, tôi phải nhận lấy nó trọn lòng và thật sự thực hành nó. Nên chỉ nói rằng tôi tin điều gì mà không thực hành thì
là—các bạn gọi đó là gì? Một người tin điều gì mà không thực hành. Sự giả hình. Sự giả hình. Vâng, đúng rồi. Sự giả hình. Nên làm một kẻ giả hình thì thật là đau khổ. Và ngay cả bây giờ, đôi khi tôi cảm thấy như mình là một kẻ giả hình. Nhiều lần tôi tự hỏi mình: à, bạn có thật sự thực hành điều bạn dạy không?
Bạn có thật sự thực hành điều bạn dạy không? Nếu tôi dạy điều gì mà không thực hành, thì tôi sẽ là gì? Một kẻ giả hình. Một kẻ giả hình. Và thấy mình là một kẻ giả hình thì không làm bạn cảm thấy vui về điều đó.
Nên
tôi chất vấn nhiều điều, và tôi từ chối làm bất cứ điều gì mà tôi không tin, dù
đó là điều gì thuộc tôn giáo hay không. Nên khi cha mẹ tôi bảo tôi làm điều gì, tôi từ chối làm điều đó. Tôi nói: "Không, con không nghĩ đây là điều nên làm." Và khi họ tranh luận với tôi, tôi tranh luận lại với họ. Tôi đưa ra cho họ nhiều lý lẽ. Và bởi vì tôi đọc rất nhiều sách và học được nhiều cách khác nhau để diễn đạt tư tưởng và đặt câu hỏi, còn cha mẹ tôi, họ không có học, là những người đơn giản, thì làm sao tranh luận được với tôi.
Nên họ luôn thua trong tranh luận với tôi. Và họ không thích điều đó. Họ rất buồn vì tôi không chịu nghe lời họ.
Và tôi cũng rất buồn vì chúng tôi không thể nói chuyện được với nhau. Và chị tôi, người chị lớn, là một người chị rất tốt, rất tử tế. Chị ấy vẫn còn sống. Chị ấy vẫn còn sống. Một ngày kia chị nói: "Này, em muốn làm gì thì làm, nhưng khi ở bên mẹ, hãy cố làm cho mẹ vui."
"Hãy làm theo điều bà ấy nói." Và tôi nói, "Không, con không thể làm vậy.
Tôi không thể làm điều mà tôi không tin là đúng. Tôi không muốn trở thành
một người trước mặt bà, và một người khác ở sau lưng bà. Tôi không muốn là hai con người. Tôi muốn là chính tôi,
bất kể tôi đang ở với ai." Nên tôi không muốn lừa dối mẹ tôi
và làm cho bà tin rằng tôi chấp nhận quan điểm của bà, rồi sau lưng bà lại không thực sự làm điều bà muốn tôi làm. Nên tôi nói, "Con sẽ không làm vậy." Vì thế mà rất khó cho tôi
trong quan hệ với cha mẹ. Và cha tôi mất khi tôi 15 tuổi, và điều đó tốt cho ông
và cũng tốt cho tôi. Tôi không có ý nói rằng tôi vui vì ông mất, nhưng sẽ rất khó cho ông khi tôi lớn lên và ngày càng độc lập hơn trong suy nghĩ, không đồng ý với quan điểm của họ và không hòa hợp được với họ.
Vậy nên
đó là một thời gian khó khăn đối với tôi khi tôi đang trưởng thành. Và khi tôi đọc câu kệ này, "Attā hi attano nātho." Mình là nơi nương tựa của chính mình. Mỗi người nên là nơi nương tựa của chính mình. Tôi rất thích điều đó. Bởi vì nếu bạn nương tựa vào chính mình, nếu bạn là nơi nương tựa của chính mình, thì bạn độc lập.
Rồi bạn tự do. Nếu bạn nương tựa vào một người khác, cho dù người đó là người trí tuệ, tốt bụng, bạn cũng sẽ không thực sự phát triển được sự hiểu biết sâu sắc của riêng bạn. Tôi không có ý nói rằng bạn không nên lắng nghe ai cả, nhưng bạn lắng nghe người ta, tự mình suy xét, thực hành, và tự mình tìm ra.
Vậy nên phải mất một thời gian dài để một người trẻ thực sự tìm ra được điều gì đó. Phải mất rất, rất lâu. Nên tôi đã quyết định rằng tôi sẽ không là thành viên của bất kỳ nhóm tôn giáo nào
trước khi tôi tìm ra tôn giáo đó nghĩa là gì,
tôn giáo đó có đúng hay không.
Thật ra, có lúc tôi đã quyết định rằng tôi sẽ không bao giờ là thành viên của bất kỳ nhóm tôn giáo nào. Bởi vì khi trở thành thành viên, bạn mất tự do. Bạn phải đồng ý với nhóm. Bạn phải đồng ý với người lãnh đạo. Bạn phải làm điều người lãnh đạo bảo bạn làm. Và tự nhiên là, có lúc bạn không thể đồng ý với người lãnh đạo của bạn.
Bạn không thể đồng ý với nhóm. Rất tự nhiên. Điều này là tự nhiên với bất kỳ ai.
Cho nên vì vậy,
mỗi khi họ có một nhóm, một tổ chức tôn giáo, tuyển thành viên, tôi không bao giờ xin làm thành viên.
Nhưng tôi luôn cố gắng giúp nhiều nhất có thể khi họ cần sự giúp đỡ của tôi, khi họ cần sự đóng góp của tôi. Tôi luôn giúp bất cứ nhóm nào. Tôi thân thiện với tất cả các nhóm, nhưng tôi chưa bao giờ là thành viên của nhóm nào. Nên ở các trường đại học cũng vậy, chúng tôi có nhiều nhóm tôn giáo, và
ai cũng thuộc về nhóm tôn giáo này hay nhóm tôn giáo khác, nhưng tôi là người duy nhất không thuộc về nhóm tôn giáo nào cả. Bởi vì tôi là người hay nghi, tôi vẫn đang cố tự mình tìm ra.
Nên như tôi đã kể câu chuyện này nhiều lần, khi tôi phải điền vào tờ đơn
để đăng ký
một năm học mới với tư cách sinh viên, tôi luôn cảm thấy, khi họ hỏi tôn giáo của bạn, tôi luôn điền vào chỗ trống: "Chưa có tôn giáo."
Điền vào chỗ trống: "Chưa có tôn giáo." Vẫn đang cố tìm ra. Bởi vì tôi tin rằng bạn không thể thừa hưởng một tôn giáo. Bạn phải học, tự mình tìm ra, và thực hành nó. Bạn không thể thừa hưởng một tôn giáo. Bạn có thể thừa hưởng tiền bạc, của cải, nhà cửa, nhưng bạn không thể thừa hưởng một tôn giáo.
Nên tôi mất nhiều năm
để tự mình tìm ra
điều gì đó mà tôi muốn sống vì nó, hay thậm chí chết vì nó, nếu phải như vậy.
Thế nên tôi bắt đầu thực hành lời dạy của Đức Phật.
Không phải vì tôi tin, mà vì tôi muốn tìm ra. Và đó chính là điều Đức Phật khuyến khích. Hãy tự mình tìm ra. Và đó là một điều mà tôi rất thích ở Đức Phật. Ngài không đòi hỏi niềm tin mù quáng. Ngài luôn khuyến khích một người thực hành và tìm ra, chứ không phải tin. Nên đó là điều khuyến khích tôi học thêm về lời dạy của Đức Phật và thực hành lời dạy của Ngài.
Vậy nên sau khi thực hành Dhamma tám hay chín năm, tôi tìm ra rằng nó thực sự giúp cải thiện tâm tôi, trái tim tôi. Nó làm tôi an bình hơn, tĩnh lặng hơn. Nó làm tôi thấy rõ ràng hơn.
Và vì vậy, tôi quyết định rằng tôi sẽ tiếp tục thực hành lời dạy của Đức Phật, dù tôi không hiểu hết mọi điều Ngài dạy. Và ngay cả bây giờ, tôi cũng không hiểu hết mọi điều Ngài dạy. Có nhiều điều tôi không hiểu được. Nhưng có một vài điều tôi đã thực hành và tìm ra rằng những điều này thực sự đúng, và những điều này thực sự đáng thực hành và đáng để sống vì nó.
Và một trong những pháp hành tôi thực hành là chánh niệm, mà tôi thấy rất đơn giản, tự nhiên và thực tiễn. Rất đơn giản và tự nhiên. Không có gì là không tự nhiên trong việc thực hành chánh niệm. Nên như quý vị có thể đã nghe hoặc đã đọc trong nhiều sách về chánh niệm, chánh niệm nghĩa là hay biết bất cứ điều gì đang xảy ra hay bất cứ điều gì bạn đang làm.
Bất cứ điều gì đang xảy ra trong thân bạn, bất cứ điều gì đang xảy ra trong tâm bạn, hay bất cứ điều gì bạn đang làm. Hay biết. Ý thức được. Chú ý đến bất cứ điều gì bạn đang làm. Nên tôi nghĩ đây là pháp hành đơn giản nhất và tự nhiên nhất
mà tôi từng tìm thấy. Bởi vì bạn không phải làm gì cả. Nên thực hành chánh niệm không phải là làm một điều gì đó.
Bằng tiếng Miến, tôi nói,
"Bauma piyong lo dharmaho bhu." "Bauma mepiyong dharma lemaho." Nghĩa là bạn không đang cố làm một điều gì đó, cũng không đang cố chống lại một điều gì đó.
Bạn chỉ đang chú ý đến bất cứ điều gì đang xảy ra.
Nên tôi thấy điều này rất đơn giản, tự nhiên và
cũng dễ thực hành. Bởi vì bạn có thể làm điều đó ở bất cứ đâu, bất kể bạn đang làm gì.
Nên khi tôi thực hành chánh niệm ngày càng nhiều hơn, tôi thấy rằng nó ảnh hưởng đến các trạng thái tâm của tôi. Tôi trở nên hay biết hơn về các trạng thái tâm của mình. Tôi trở nên hay biết hơn về những suy nghĩ, cảm giác và cảm xúc của mình. Và đặc biệt là ở lúc ban đầu,
quý vị nghĩ mình sẽ tìm thấy điều gì nhiều hơn về chính mình ở lúc ban đầu?
Phiền não.
Tất cả những suy nghĩ tiêu cực. Phiền não. Phiền não. Đúng vậy. Một cách tự nhiên. Phiền não.
Cho nên khi tôi
chú ý đến những gì đang xảy ra trong tâm mình, tự nhiên tôi thấy rằng tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia, hoặc tôi đang giận hay bực mình về chuyện này chuyện nọ. Vậy nên phần lớn chúng ta trải qua cả ngày muốn cái này, muốn cái kia. Không thích cái này, không thích cái kia. Bực bội, giận dữ.
Đôi khi chúng ta vui, không phải luôn giận, không phải luôn bực, mà đôi khi chúng ta cũng vui. Nhưng ngay cả khi vui, khi tôi chú ý sát sao vào trạng thái tâm ấy, tôi thấy rằng đôi khi chúng ta chỉ đang tự lừa dối mình để làm cho mình vui.
Khi bạn thật sự nghiêm túc xem xét trạng thái tâm vui vẻ này, bạn sẽ thấy nó khá là trẻ con. Đôi khi chúng ta nói chuyện tiếu lâm rồi cười, và khi bạn nghiêm túc suy nghĩ về những câu chuyện tiếu lâm đó, nó chẳng có nghĩa lý gì. Thật là vô nghĩa. Rất nhiều lần tôi nghĩ rằng cái làm chúng ta cười thật ra là một điều rất vô nghĩa.
Vậy là điều vô nghĩa làm chúng ta cười, làm chúng ta vui.
Nhưng khi tôi nghiêm túc về điều đó, đôi khi bạn bè tôi kể chuyện tiếu lâm, tôi không cười. Và họ rất không vui về chuyện đó. "Sao chúng tôi cười mà anh lại không cười?" Và tôi nói, "Chẳng có gì để cười trong câu chuyện này. Nó không có nghĩa lý gì cả." Vậy nên khi bạn thật sự nghiêm túc về điều gì có nghĩa lý và điều gì không có nghĩa lý,
thì rất khó cho bạn để cười.
Vậy nên sau khi thực hành điều này nhiều năm, tôi đi đến kết luận rằng tôi sẽ tiếp tục thực hành điều này suốt quãng đời còn lại.
Bởi vì tôi nhận ra rằng thực hành thiền làm cho tâm trong sáng hơn, tỉnh giác hơn, ý thức hơn. Bạn có thể thấy sự việc rõ ràng hơn. Bạn có thể thấy tâm mình rõ ràng hơn. Và điều đó giúp cải thiện trạng thái tâm và sự hiểu biết của tôi. Vậy nên khi tôi thực hành và đọc sách Dhamma, nó giúp tôi cả hai phía.
Cho nên tôi tin rằng nếu bạn thật sự muốn hiểu lời dạy của Đức Phật, bạn phải làm cả hai. Bạn phải học, nghĩa là bạn đọc sách. Bạn cũng phải thảo luận những gì bạn đọc với người khác để bạn có những quan điểm khác nhau. Bởi vì đôi khi bạn hiểu sai những gì bạn đã đọc, hoặc đôi khi cùng một ý mà có thể có nhiều cách giải thích khác nhau.
Vậy nên điều quan trọng là học, đọc, thảo luận, và cũng phải thực hành. Và thực hành trong thời gian dài, nhiều năm. Có thể mất nhiều năm để bạn thật sự đi đến kết luận rằng điều này là thực tiễn, điều này là hữu ích, điều này có hiệu quả, và đây là con đường đúng hay đạo lộ chân chánh.
Rất nhiều người, tôi thấy rằng họ không muốn tự mình tìm hiểu, đặc biệt là, ví dụ, những người bạn tôi học cùng trường, những người tôi rất thương mến. Họ không muốn tự mình suy nghĩ. Họ không thật sự nghiêm túc với tôn giáo của mình.
Và mặc dù tôi đã là một người hoài nghi trong nhiều năm, 8 hay 9 hay 10 năm trong tuổi thanh niên, suốt những năm tuổi trẻ cho đến khi tôi 27, hay 26, ý tôi là vậy. Mặc dù tôi là người hoài nghi, tôi nghiêm túc về tôn giáo. Vậy nên tôi nhận ra rằng những người tin một cách dễ dàng thì không thật sự nghiêm túc.
Những người tin mà không thật sự cố gắng tự mình tìm hiểu thì không thật sự nghiêm túc. Nhưng những người hoài nghi thì thật sự nghiêm túc. Và tôi cũng có vài người bạn khác rất hoài nghi về mọi tôn giáo, và tôi nhận ra rằng họ còn có tôn giáo hơn cả những người tin.
Mặc dù họ nói họ không tin vào điều gì cả, họ lại có tôn giáo hơn. Họ tự chế hơn.
Họ cư xử tốt. Họ không làm tổn thương người khác. Họ giữ, tôi nói thế nào nhỉ?
Họ giữ giới.
Có cách nói nào khác không?
Họ tự trọng, và họ tôn trọng người khác. Họ tử tế, có lòng thương. Nhưng khi tôi hỏi họ, "Anh tin gì? Anh có tin vào tôn giáo nào không?" họ nói, "Ờ, không. Tôi không tin tôn giáo nào cả." Nhưng tôi thấy những người này thật sự là những người tử tế và tốt lành. Và sau này, một số trong họ trở thành những thiền sinh tốt, và bây giờ họ là những Phật tử thực hành.
Không chỉ là Phật tử do sinh ra trong gia đình Phật giáo, mà là Phật tử thực hành thật sự. Và một số trong họ vẫn còn hoài nghi, và họ không thực hành tôn giáo nào. Và tôi có một người bạn như vậy
người vẫn đang
cố gắng tìm hiểu. Vẫn chưa quyết định. Vậy nên khi tôi nói chuyện với người bạn này, nó nhắc tôi nhớ đến một vị đạo sĩ Bà-la-môn trẻ vào thời Đức Phật. Khi Đức Phật thành đạo và Ngài đang đi
đến Varanasi để thuyết bài pháp đầu tiên, bài kinh đầu tiên cho nhóm năm vị đạo sĩ. Trên đường, Ngài gặp một vị Bà-la-môn trẻ
tu sĩ và hỏi Ngài, "Ông là ai?" Và Đức Phật nói, "Ta là Buddha. Ta đã giác ngộ. Ta là người tỉnh thức." Và vị Bà-la-môn nói, "Ồ, vậy sao?" Rồi ông đi đường của mình.
Và rất nhiều lần ông gặp Đức Phật, hoặc ông tìm xem Đức Phật đang trú ở đâu, rồi đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài những câu hỏi. Và Đức Phật cho ông
những lời giải thích, những giải thích hay, và ông lắng nghe rồi nói, "Ồ, vậy sao?" Rồi ông đi. Và rất nhiều lần, suốt hơn 40 năm, ông theo Đức Phật và hỏi Ngài hết câu này đến câu khác, vẫn còn rất nhiều nghi hoặc. Vẫn chưa thể quyết định. Không thể dứt khoát.
Và ngay trước khi Đức Phật nhập diệt, ông cảm thấy rằng mình đã
hiểu được lời dạy của Đức Phật và quyết định trở thành một vị bhikkhu. Sau khi theo Đức Phật 45 năm, cuối cùng ông quyết định trở thành bhikkhu. Và tôi rất thích câu chuyện đó.
Vậy nên tôi nghĩ ở Mỹ cũng có những người như thế, ở bất cứ đâu trên thế giới, có những người chưa quyết định, vẫn đang tìm kiếm điều gì đó, và thật sự nghiêm túc về chuyện đó. Không chỉ là tùy tiện. Họ thật sự nghiêm túc về một điều gì đó đáng để sống. Điều gì đó sẽ mang lại ý nghĩa cho đời họ.
Điều gì đó sẽ cho họ sự hiểu biết sâu hơn về ý nghĩa của cuộc sống. Họ vẫn đang tìm kiếm. Và tôi rất kính trọng họ. Hãy cứ từ từ.
Vậy nên
nhiều người, vì họ không muốn chịu khó học, thực hành, tự mình tìm hiểu, nên chỉ phó thác mình cho một ai đó và hỏi, "Hãy nói cho tôi biết phải tin gì," hoặc "Hãy nói cho tôi biết phải làm gì."
Nếu vị thầy đó là một vị thầy tốt, thì được, vị ấy sẽ nói cho bạn điều đúng đắn nên làm. Và nếu bạn làm điều đó, nó sẽ có lợi cho bạn. Nhưng
dù bạn làm điều đúng đắn, bạn cần hiểu vì sao bạn làm điều đó, và điều bạn đang làm ảnh hưởng đến tâm và thân bạn như thế nào, nó ảnh hưởng đến đời bạn ra sao. Những ngày này bạn nghe nói về nhiều giáo phái mà các vị lãnh đạo bảo tín đồ làm những điều khủng khiếp. Và những tín đồ ấy
đã làm đúng như vậy. Bạn có thể kể cho tôi một câu chuyện như thế không? Nơi mà vị lãnh đạo bảo tín đồ làm một điều thật khủng khiếp, và các tín đồ đã làm. Một câu chuyện. Ở Jonestown, đúng rồi. Vâng. Chuyện đó thật kinh khủng. Những câu chuyện kinh khủng, đúng vậy. Vậy nên mỗi khi đọc những chuyện như thế, tôi nghĩ, "Làm sao những người này lại
xem những chỉ dẫn ấy nghiêm túc đến vậy? Họ tự sát."
Vậy nên tôi nghĩ
điều rất quan trọng là người ta phải tự mình tìm hiểu, phải dành thời gian. Đừng tin ngay.
Và đó là việc khó. Tự mình tìm ra, đó thật là việc khó. Có thể mất rất nhiều, rất nhiều năm, nhưng đáng để chịu khó.
Và khi bạn thật sự làm việc chăm chỉ để tự mình tìm ra, bạn phát triển sức mạnh nội tâm, cả sự tự tin, lòng tự trọng, và bạn càng lúc càng độc lập và tự do. Vậy nên tôi đã học với nhiều vị thầy, ngay cả trước khi tôi trở thành một vị tu sĩ, và tôi cũng học với nhiều vị thầy sau khi tôi trở thành tu sĩ. Tôi lắng nghe những gì các vị ấy nói với tôi, và tôi đã cố gắng, hết sức mình, thực hành những điều các vị ấy dạy tôi làm, và tự mình tìm ra xem nó có hiệu quả với tôi hay không.
Những điều khác nhau thì hiệu quả với những người khác nhau. Chẳng hạn, có rất nhiều thiền,
hãy nói là, kỹ thuật hay phương pháp khác nhau.
Không phải mọi hướng dẫn thiền đều hiệu quả với tất cả mọi người. Mỗi người có tính cách khác nhau. Họ có khuynh hướng khác nhau, sở thích khác nhau. Vậy nên điều hiệu quả với người này có thể không hiệu quả với người khác. Ngay cả Đức Phật cũng dạy những người khác nhau theo những cách khác nhau.
Vậy nên tôi thấy rằng Pháp rất linh hoạt và cũng rất thích ứng.
Nhưng điều rất quan trọng là hiểu rằng linh hoạt và thích ứng không có nghĩa là chúng ta có thể
giải thích nó theo bất cứ cách nào mình muốn. Bởi vì Pháp là luật tự nhiên, và luật tự nhiên thì không thể thay đổi. Chẳng hạn, khi bạn có ham muốn hay tham, Đức Phật nói rằng điều đó dẫn đến bất an hay khổ. Điều đó có đúng không?
Bạn đã tự mình tìm ra rằng điều này là đúng chưa? Vâng, nó không thể thay đổi được. Nhưng bây giờ một số người lại nói điều gì khác hẳn.
Vậy nên việc tự mình tìm ra là rất quan trọng. Các luật tự nhiên không thể thay đổi. Vậy nên khi tôi thực hành lời dạy của Đức Phật và tìm ra những luật tự nhiên này ở trong tôi, nó không ở ngoài kia. Những luật tự nhiên này ở trong tâm chúng ta, ở trong tôi. Vậy nên mỗi khi tôi thấy rằng tôi muốn một điều gì, hay tôi dính mắc vào một ai đó, tôi cảm thấy rất bất an.
Tôi cảm thấy rất căng thẳng. Vậy nên mỗi khi tôi mất một điều gì mà tôi yêu thích lắm, bất cứ vật gì hay người nào, tôi cảm thấy rất bất an. Và khi tôi nhìn sâu vào tâm mình, tôi tìm ra rằng điều này là đúng. Điều này là đúng. Tôi đã quan sát hiện tượng này hàng trăm lần, và mỗi lần tôi quan sát, tôi thấy cùng một điều.
Mỗi khi tôi dính mắc vào điều gì, mỗi khi tôi muốn điều gì quá mãnh liệt, tâm tôi không an. Có lúc tôi còn không ngủ được. Vậy nên việc tôi có thể vượt qua dính mắc hay tham hay không là chuyện khác. Nhưng thấy được rằng điều này là đúng thì rất quan trọng.
Không tự dối mình rằng, "Ồ, không sao. Chẳng sao cả. Tôi cũng không bất an lắm về chuyện đó." Nhưng phần lớn người ta tự dối mình.
Vậy nên tự mình tìm ra và không làm một người theo mù quáng là rất quan trọng. Chẳng hạn, tôi kể cho các bạn một câu chuyện về Upali. Tôi cũng rất thích câu chuyện này. Tôi kính trọng Đức Phật cũng vì câu chuyện này. Một người giàu tên Upali đến gặp Đức Phật và hỏi ngài nhiều câu hỏi.
Ý định của ông là dồn Đức Phật vào góc để ngài không thể trả lời được câu hỏi. Ngài trả lời cách nào thì cũng sẽ vào bẫy. Ngài sẽ bị dồn vào góc. Vậy nên với ý định đó, ông đến gặp Đức Phật và hỏi Đức Phật nhiều câu hỏi. Nhưng Đức Phật, rất trí tuệ và thiện xảo, bởi vì ngài quá trí tuệ và thiện xảo, đã trả lời tất cả các câu hỏi khiến Upali hài lòng.
Và Upali trở nên rất hài lòng với lời dạy của Đức Phật và nói: "Bạch Đức Phật, xin nhận con làm đệ tử của Phật, Pháp và Tăng. Xin nhận con làm người theo và người hộ trì Phật, Pháp và Tăng." Và Đức Phật nói: "Này Upali, ông rất nổi tiếng và ông có trí. Đừng vội vàng. Hãy từ từ. Hãy suy xét lại."
Tôi đã rất ngạc nhiên khi đọc câu chuyện đó. Và Upali cũng rất ngạc nhiên. Ông nói: "Bạch Đức Phật, nếu con chuyển sang một giáo phái khác, họ sẽ đi khắp thành phố và tuyên bố," từ đó đúng không? Mm-hmm. "Tuyên bố rằng Upali giờ đã chuyển sang giáo phái của chúng tôi, sang tôn giáo của chúng tôi.
Họ sẽ rất tự hào về điều đó." Nhưng bây giờ khi con nói: "Bạch Đức Phật, xin nhận con làm đệ tử của Đức Phật, và người hộ trì Pháp và Tăng của Đức Phật," thì ngài lại nói: "Này Upali, hãy từ từ. Hãy suy xét lại. Ông có trí. Ông rất nổi tiếng. Đừng vội vàng.
Đừng kết luận vội vàng.
Đừng quyết định quá dễ dàng."
Vậy nên vì lý do đó,
con kính trọng ngài, và con xin ngài lần thứ hai, xin nhận con làm đệ tử của Đức Phật và người hộ trì Phật, Pháp và Tăng." Và Đức Phật nói: "Được rồi. Nhưng ông từng là đệ tử của các vị Nigandha, và nhà ông, ngôi nhà của ông, giống như một cái giếng ở góc đường, ở ngã tư, nơi mà tất cả các vị Nigandha có thể đến lấy bất cứ điều gì họ cần.
Vậy nên ta nghĩ ông vẫn nên hộ trì các vị Nigandha ấy, dù ông trở thành đệ tử của Đức Phật."
Và Upali nói: "Con ngạc nhiên. Người ta
nói với con rằng Đức Phật dạy chỉ có hộ trì hay cúng dường cho Đức Phật và các đệ tử của ngài, chư Tăng, mới có lợi ích. Còn cúng dường hay hộ trì cho người khác thì không có lợi ích. Nhưng điều con nghe từ ngài thì khác hẳn với điều con nghe từ những người khác.
Vậy nên
con lại xin ngài
nhận con làm đệ tử của Đức Phật và người hộ trì Phật, Pháp và Tăng. Còn việc hộ trì các vị Nigandha, con biết về điều đó." Vậy nên ông vẫn hộ trì các vị tu sĩ khổ hạnh khác
như ông từng làm. Vậy các bạn thấy Đức Phật đã độ lượng thế nào. Ngài không muốn các giáo phái khác bị mất đi sự hộ trì của họ. Ngài rất từ bi.
Vậy nên tôi nghĩ một người Phật tử chân chánh nên học được điều gì từ câu chuyện này,
là hãy độ lượng.
Và rồi Upali nói: "Xin ngài nhận lời thỉnh mời của con cho
một bữa ăn,
Đức Phật và tất cả các đệ tử. Con thỉnh Đức Phật và tất cả các đệ tử đến nhà con thọ thực ngày mai." Và Đức Phật đã nhận lời. Vậy nên từ câu chuyện đó, tôi cũng tìm ra rằng Đức Phật không muốn người ta
chấp nhận lời dạy của ngài một cách dễ dãi,
mà thật sự tìm hiểu, nghiêm túc hơn về điều đó. Vậy nên tôi nghĩ, Đức Phật không muốn có số lượng lớn đệ tử. Ý định của Đức Phật là để một người tự mình tìm ra và được giải thoát,
được tự do. Thật ra ngài không muốn có đệ tử. Ngài muốn người ta hiểu chân lý và vượt qua phiền não và trở nên tự do. Và một câu chuyện khác, ngay trước khi Đức Phật nhập Niết bàn,
Tôn giả Ananda hỏi,
"Khi ngài nhập diệt, ai sẽ là thầy của chúng con?" Đức Phật nói: "Pháp và Luật mà ta đã dạy các ông sẽ là thầy của các ông." Ngài không
chỉ định ai thay thế vị trí của ngài. Và điều này thật đáng ngạc nhiên.
Tôi chưa từng tìm thấy trong bất cứ tôn giáo nào khác
một điều như vậy, tôi nói thế nào nhỉ?
Lời chỉ dạy?
Vậy Dhamma và Vinaya là thầy của chúng ta, không phải một con người.
Ngài không chỉ định bất kỳ vị đại đệ tử nào thay thế vị trí của Ngài, để làm người lãnh đạo Tăng đoàn.
Điều này rất độc đáo. Điều này rất quan trọng. Hãy suy nghĩ về nó. Bạn sẽ hiểu ra ý định của Đức Phật.
Và Đức Phật cũng nói rằng: "Ta không muốn làm người lãnh đạo một nhóm nào." Ngài không muốn làm người lãnh đạo. Ngài chỉ muốn làm cho mọi người được tự do. "Ta không có ý định làm người lãnh đạo, làm vị lãnh đạo lớn.
Ta không nghĩ rằng ta sẽ lãnh đạo Tăng đoàn." Dù Ngài lập ra Tăng đoàn, Ngài đặt ra các giới luật cho Tăng đoàn, và việc quyết định là của Tăng đoàn. Mỗi khi có điều gì cần quyết định, Tăng đoàn phải
họp lại và tuyên bố họ sẽ làm gì, rồi xin biểu quyết. Và chỉ khi 100% đồng thuận thì quyết định mới có hiệu lực. 100%, không phải 99%. Vậy chắc là rất khó để làm được điều đó. Nên đọc những câu chuyện này và suy nghĩ về chúng làm tôi kính trọng Đức Phật rất sâu sắc.
Đây là vị thầy mà tôi có thể tin và kính trọng, vì Ngài không muốn làm người lãnh đạo. Ngài không đòi hỏi niềm tin mù quáng. Ngài không muốn có một số lượng lớn tín đồ.
Ý định của Ngài không phải là có thật nhiều tín đồ. Ý định của Ngài là chỉ ra sự thật, chỉ ra con đường dẫn đến giải thoát, tự do, và được tự do. Nên khi tôi còn trẻ, tôi nghĩ: "Thôi, tốt hơn là đừng thuộc về tôn giáo nào, vì nếu bạn thuộc về một tôn giáo nào, bạn phải
tin những điều mà bạn không tin. Bạn sẽ bị yêu cầu hoặc bị buộc phải tin những điều bạn không muốn tin, hoặc bạn sẽ bị yêu cầu hay bị buộc làm điều bạn không muốn làm. Bạn sẽ mất tự do, và hành vi của bạn sẽ bị kiểm soát. Không chỉ hành vi, mà cả suy nghĩ của bạn cũng bị kiểm soát."
Vì có lúc tôi đọc trong sách rằng nếu bạn có bất cứ nghi ngờ nào, bạn đã phạm một tội lớn rồi.
Bạn không được phép có một ý nghĩ nghi ngờ. Bạn không được phép có bất cứ nghi ngờ nào. Nhưng Đức Phật khuyến khích sự nghi ngờ. Nhưng khuyến khích nghi ngờ không có nghĩa là bạn dừng lại ở đó. Vì nếu bạn có nghi ngờ nào, thì bạn phải nỗ lực để tìm ra.
Nên với những người nói: "Thôi, tôi tin hết", thì rất dễ và rẻ. Nhưng với một số người nói: "Thôi, tôi không biết.
Tôi sẽ tìm ra", thì người đó đã nhận một trách nhiệm lớn.
Vậy nên
tự mình tìm ra là một trách nhiệm lớn, mà phần lớn người ta không muốn nhận. "Hãy nói cho tôi. Nói cho tôi. Nói cho tôi phải làm gì. Nói cho tôi phải tin gì. Đừng bắt tôi suy nghĩ." Người ta sợ suy nghĩ. Nên có một người nói: "Nếu bạn thật sự làm cho người ta suy nghĩ, họ sẽ ghét bạn. Nhưng nếu bạn làm cho người ta tin rằng họ đang suy nghĩ, thật đấy, họ sẽ yêu bạn."
Bạn nói gì về điều đó? Vậy nên suy nghĩ hay tự mình tìm ra, thực hành và tự mình tìm ra, là một trách nhiệm lớn.
Vậy bạn phải tự mình tìm ra. Đó là một trách nhiệm lớn. Nó rất thách thức. Và dù có lúc nó làm bạn cảm thấy mệt mỏi, hay nó
làm bạn mất ngủ, nếu bạn kiên trì, bạn sẽ tìm ra. Sự kiên trì thật sự quan trọng. Vì điều Đức Phật dạy là quy luật tự nhiên. Và tự nhiên, dù
có lúc dường như tự nhiên đang che giấu sự thật của chính nó, nếu bạn kiên trì, chắc chắn bạn sẽ tìm ra.
Trong nhiều lĩnh vực khác cũng vậy, chẳng hạn trong vật lý, các nhà khoa học làm việc rất nỗ lực. Hàng trăm hay hàng ngàn nhà khoa học nỗ lực năm này qua năm khác, và họ tìm ra sự thật này rồi sự thật khác về thế giới vật chất.
Cũng vậy, khi chúng ta hành thiền, chúng ta đang tìm hiểu về bản chất của tâm và thân này.
Cái gì làm chúng ta hạnh phúc? Cái gì làm chúng ta không hạnh phúc? Cái gì
làm chúng ta tự do? Và cái gì làm chúng ta, ngược lại của tự do là gì? Bị giam hãm. Bị giam hãm. Bị giam hãm, đúng. Vậy
nếu chúng ta thật sự kiên trì, và nếu chúng ta thật sự thực hành Satipaṭṭhāna, chánh niệm, chúng ta sẽ tự mình tìm ra.
Đó là một trách nhiệm lớn. Nhưng nếu chúng ta tránh trách nhiệm này, chúng ta sẽ không bao giờ tự mình tìm ra, và sẽ không bao giờ được tự do. Chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy tự tin. Chúng ta sẽ luôn phụ thuộc. Và chúng ta sẽ luôn là một đứa trẻ. Chúng ta sẽ không bao giờ lớn lên.
Ừ, cậu bé đó đâu rồi? Tôi muốn trả lời câu hỏi của cậu ấy.
Billy. Billy. Billy? Cậu ấy ngủ rồi à? Cậu ấy
mệt rồi.
Mệt. Được. Thôi được.
Nhưng câu hỏi của cậu ấy là: "Làm một tu sĩ thì như thế nào?"
Tôi hỏi điều đó với mọi vị tu sĩ trong hội nghị.
Nhưng với tôi, tôi nghĩ làm một tu sĩ rất tự nhiên đối với tôi, giống như cá trong nước. Tôi đã làm điều đó.
Làm một tu sĩ thật sự không khó đối với tôi.
Tôi trở thành tu sĩ do chính chọn lựa của mình. Và tôi thích điều đó từ khi tôi trở thành tu sĩ. Từ ngày đầu tiên tôi trở thành tu sĩ, tôi thật sự yêu thích nó, thích thú với nó. Dù đó là một đời sống khó khăn. Làm một tu sĩ không dễ. Nhưng không dễ không có nghĩa là tôi không thích. Tôi không muốn một đời sống dễ dãi.
Tôi thích làm việc nỗ lực.
Nên sau khi trở thành tu sĩ, tôi vào một tu viện trong rừng, tôi muốn nói là đến một tu viện trong rừng, trở thành tu sĩ và sống một đời sống rất đơn giản. Đơn giản có nghĩa là thật sự đơn giản. Tôi có tất cả quần áo đang mặc trên người. Đó là tất cả những gì tôi có. Và tôi có một cái bát, và tôi có một chỗ nhỏ để ở.
Nhưng lúc đầu, thậm chí không có cả một chỗ ở. Tôi sống nhiều tháng dưới một gốc cây, trên một cái ghế, ngồi trên ghế và ngủ trên ghế, đi khất thực một vòng đến những làng nhỏ, những làng nghèo, và nhận thức ăn từ dân làng, trở về và ăn một bữa một ngày, chỉ một bữa duy nhất trong ngày, và hành thiền phần lớn thời gian, có lúc đi nghe pháp thoại của thầy tôi, có lúc đặt câu hỏi, và có lúc cũng giúp những vị tu sĩ trẻ hơn.
Sau khi sống với thầy tôi được ba, bốn năm, tôi chuyển đến một nơi khác, vì thầy tôi rất nổi tiếng. Nên tự nhiên, khi bạn sống với một người nổi tiếng như vậy, bạn gặp quá nhiều người. Và có rất nhiều thứ làm phân tán, đến nỗi có khi bạn không có đủ thời gian để hành thiền.
Và khi bạn biết nhiều điều, và khi bạn hay giúp đỡ, tự nhiên càng có nhiều người đến xin giúp. Và bạn sẵn lòng giúp, nhưng bạn cũng cần thời gian cho chính mình. Nên khi tôi sống với thầy, có lúc tôi bận rộn đến nỗi không có đủ thời gian để tự thực hành cho mình.
Nên tôi xin phép thầy chuyển đến một tu viện trong rừng, ở đó chỉ có một vị sư già gần như mù, và vài vị tu nữ chăm sóc ngài. Tôi đến nơi đó và tìm được một cái hang, một cái hang bỏ hoang. Không ai sống trong hang đó. Và hang đó nằm trong một khe núi.
Thậm chí không có bậc thang để đi xuống. Nên tôi phải bám vào cây mà đi xuống, đi xuống, và
dành phần lớn ngày tháng trong cái hang nhỏ đó. Và đó là nơi tôi đi rất sâu vào việc hành thiền, phát triển được chánh niệm và định thật mạnh, và bắt đầu thấy rất rõ những gì đang diễn ra trong tâm mình. Thoạt đầu, điều tôi thấy là các suy nghĩ, những suy nghĩ ngẫu nhiên, cái này tiếp cái kia
khởi lên trong tâm tôi. Một số suy nghĩ của tôi rất buồn cười. Tôi nghĩ điều đó là tự nhiên với bất cứ ai. Nếu ai đó có thể ghi âm lại các suy nghĩ của bạn rồi phát lại cho bạn nghe,
bạn sẽ bật cười. Nên khi quan sát các suy nghĩ của mình, nhiều lần tôi chỉ tự cười mình. "Ồ, ngớ ngẩn làm sao, khờ khạo làm sao, buồn cười làm sao." Tôi không hề bực mình, vì tôi không cố kiểm soát bản thân. Tôi chỉ cố quan sát. Và tôi rất thích quan sát, rất thích xem.
Nên bất cứ suy nghĩ nào đến trong tâm, tôi đều thấy rất thích thú với suy nghĩ đó và quan sát nó rất sát. Suy nghĩ và cảm xúc, chúng đi cùng nhau. Mỗi suy nghĩ đều kèm theo một loại cảm xúc, hoặc trong tiếng Pali là samādhi, nghĩa là vui về điều đó, hoặc dharmanāthā, không vui, hoặc upekkhā, nghĩa là trung tính, không vui cũng không buồn.
Nên khi quan sát các suy nghĩ, tôi cũng cảm nhận được cảm xúc đi kèm với suy nghĩ đó. Và khi tôi quan sát các suy nghĩ càng lúc càng sát, như nhìn suy nghĩ của mình qua kính hiển vi và phóng đại lên càng lúc càng lớn, tiến càng gần hơn tới những chi tiết của suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng khi bạn suy nghĩ, bạn nghĩ bằng lời, và cũng có những hình ảnh khởi lên.
Tự nhiên, ai cũng biết điều đó, nhưng bạn đã bao giờ thật sự tiến gần và thấy nó thật rõ chưa? Hình ảnh lóe lên trong tâm bạn, lời nói hiện ra trong tâm bạn, cảm xúc khởi lên trong tâm bạn. Nên rất thú vị. Đây là lần đầu tiên tôi thật sự thích thú với việc hành thiền mà không cố kiểm soát các suy nghĩ của mình, không cố
thậm chí không cố để có định. Tôi chỉ thấy thích thú trong việc quan sát các suy nghĩ của mình.
Nên
đây không phải là việc duy nhất tôi làm. Bất cứ khi nào tôi làm bất cứ điều gì, tôi chú tâm sát sao vào đó. Ví dụ, khi tôi khát, tôi cảm nhận cơn khát, và tôi cảm nhận ý muốn uống nước. Và tôi thấy quyết định đứng lên đi lấy nước uống. Nên tôi có thể thấy tất cả những điều này rất rõ.
Cơn khát, cảm giác, ý muốn uống, quyết định uống, và quyết định làm cho thân tôi đứng lên. Tôi thấy được điều đó và cảm nhận được điều đó. Và bước đi tới chum nước, lấy cái ly, mở nắp chum nước, vì ở Miến Điện chúng tôi chứa nước trong chum đất, không như ở đây trong bình nhựa.
Nên nhúng ly, lấy nước, và uống, và cảm nhận cái mát, và cảm thấy dễ chịu hơn sau khi uống, và đặt ly lại chỗ cũ, và trở về chỗ ngồi của mình, ngồi xuống, thư giãn, chú tâm vào hơi thở, và dần dần, một cách tự nhiên, tâm tôi hướng về việc quan sát tâm.
Vì tôi nghĩ đây là khuynh hướng của tôi. Dù tôi bắt đầu hành thiền bằng cách chú tâm vào hơi thở, nhưng sau khi phát triển được một chút định, tự nhiên tâm tôi
quan sát những gì đang diễn ra trong tâm mình. Tự nhiên, sự chú tâm của tôi
nghiêng về việc chú ý đến những gì đang xảy ra trong tâm mình, những gì tôi đang suy nghĩ. Nên hãy thấy thích thú. Điều này rất quan trọng. Vì nếu bạn không thích thú với điều gì, nó trở thành một công việc rất nặng nhọc. Nhưng nếu bạn thích thú khi làm một việc, thì dù có mất bao lâu, bạn cũng không thấy mệt.
Nên tôi rất thích thú với các suy nghĩ của mình. Và khi tôi có được sự quan sát thật trực tiếp, thật đúng điểm,
thật sự, tiếng Miến chúng tôi gọi là visu pante de, ngay trong hiện tại. Khi tôi quan sát được suy nghĩ của mình và thật sự chạm đúng vào nó, nó dừng lại. Và tôi thấy điều này thật đáng ngạc nhiên. Không ai nói với tôi về điều đó. Thầy tôi không nói cho tôi biết điều gì sẽ xảy ra nếu tôi quan sát các suy nghĩ của mình. Nhưng khi tôi quan sát mãi, quan sát mãi, quan sát mãi, khi tôi thật sự chạm đúng đích, tự nhiên suy nghĩ dừng lại.
Và nó bị cắt ngay giữa câu. Và tôi rất ngạc nhiên. Nhưng sau đó nó lại tiếp tục.
Nên tôi làm như vậy lặp đi lặp lại nhiều, nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng. Và điều xảy ra là, tôi càng chú tâm được vào suy nghĩ, thì càng dễ dàng hơn cho tôi để thấy nó rất rõ, và nó dừng lại. Nên bất cứ loại ham muốn nào, khi nó xuất hiện, tôi không cố vượt qua ham muốn đó.
Tôi không cố đàn áp ham muốn. Tôi không cố hướng tâm đi khỏi ham muốn để bị phân tán hay để chú ý đến điều gì khác. Bất cứ khi nào có ham muốn xuất hiện, tôi chú tâm sát sao vào ham muốn đó. Nên thực hành chánh niệm không phải là quay đi. Nó là nhìn vào, nhìn thẳng.
Nên khi tôi nhìn rất sát vào ham muốn, tôi cảm nhận được ham muốn đó muốn gì, nó đang cố đạt được điều gì, nó đang cố làm gì, nó đang vươn tới điều gì, và tôi cảm thấy thế nào khi có ham muốn.
Ví dụ, tự nhiên, khi chúng tôi đi khất thực ở những làng nghèo, chúng tôi không nhận được thức ăn thật ngon, dù thức ăn cũng đủ tốt để giữ chúng tôi sống. Không như những gì mẹ tôi nấu cho tôi.
Đó là làng nghèo. Và tự nhiên, có lúc tôi muốn ăn một bữa ngon. Và có lúc trong tâm tôi nghĩ đến, mơ đến việc được ăn một bữa ngon. Và tôi bắt gặp chính mình, ồ, đang nghĩ đến một bữa ăn ngon, một bữa ăn tốt. Và quan sát ham muốn đó rất sát, và thấy rất thích thú, và học được rất nhiều về ham muốn.
Nên bất cứ khi nào tôi thấy bực bội hay buồn hay tức giận, tôi quan sát trạng thái tâm đó và thấy rất, rất thích thú với sự bực bội. Điều gì làm tôi bực bội? Bạn cảm thấy thế nào khi bực bội? Sự bực bội đang cố làm gì? Chức năng của nó là gì? Nên tôi học được rất nhiều về bản chất của ham muốn, bản chất của sự bực bội, vì đó là hai cảm xúc thúc đẩy chúng ta nhiều nhất.
Có nhiều động lực khác nữa, nhưng hai cái này thúc đẩy chúng ta nhiều nhất trong đời sống hằng ngày. Nên thay vì vượt qua hay loại bỏ ham muốn, tôi thấy thích thú với ham muốn, hay sự bực bội, hay cơn giận, và quan sát nó rất sát. Và một điều làm tôi rất bực khi tôi sống trong tu viện rừng là khi người ta đến đốn cây.
Tôi không chịu được điều đó. Bất cứ khi nào nghe ai đó đốn cây, tôi phải ngưng hành thiền và đi nói với người đó hãy ngưng lại. Đừng đốn cây.
Đó là điều tôi không thể chịu được.
Nên nhiều lần, bất cứ khi nào tôi nghe ai đó đốn cây, tôi thấy bực đến thế, giận đến thế, đến nỗi không thể hành thiền được nữa.
Vậy đó, bằng cách ấy tôi học được rất nhiều về ham muốn là gì, cơn giận là gì, sự bực bội là gì, hay ngay cả sự tự hào là gì. Và dần dần, bất cứ khi nào tôi quan sát tâm mình, mọi suy nghĩ đều dừng lại. Và tâm trở nên rất trong sáng.
Không còn suy nghĩ nữa, một cái tâm rất trong sáng, yên tĩnh, an bình.
Và điều này rất quan trọng. Nên tôi cố giải thích về điều này lặp đi lặp lại, vì theo sự hiểu biết của tôi, thiền không phải là tạo ra một trạng thái tâm nào đó. Thực hành chánh niệm không phải là tạo ra một trạng thái tâm nào đó. Thực hành chánh niệm là chú tâm vào bất cứ điều gì đang xảy ra ngay bây giờ trong thân hay trong tâm bạn.
Và nếu bạn chú tâm được một cách trọn vẹn, bạn sẽ thấy nó rất rõ, bạn sẽ học được bản chất của nó, và bạn sẽ thấy rằng đây là một hiện tượng tự nhiên.
Hiện tượng tự nhiên nghĩa là nó diễn ra một cách tự nhiên theo các quy luật nhân quả của chính nó. Có những nguyên nhân
tạo ra tình huống này.
Và bạn có thể thấy rằng cả nhân và quả đều là tự nhiên. Và không có ai đứng phía sau. Không có ai làm cho nó xảy ra. Và đây là điều đầu tiên tôi đã kinh nghiệm. Khi tôi quan sát bất cứ hiện tượng thân nào hay bất cứ hiện tượng tâm nào, điều đầu tiên tôi học được từ đó là đây là một hiện tượng tự nhiên.
Và không ai làm cho nó xảy ra. Nó xảy ra vì nó có những nguyên nhân tự nhiên để xảy ra,
nghĩa là đây là anattā, không phải attā. Nên đó là điều đầu tiên tôi học được từ việc hành thiền của mình. Nên khi tôi đã học được điều này rất rõ, việc hành thiền của tôi trở nên rất dễ dàng. Vì trước đó, tôi hành thiền với một cái ngã rất lớn. Tôi đang hành thiền.
Tôi đang làm một việc gì đó. Tôi đang làm cho một việc gì đó xảy ra. Tôi đang cố gắng đạt được một điều gì đó. Một cách tự nhiên, trong đời sống hằng ngày, đó là cách chúng ta cố gắng hoàn thành công việc. Nhưng khi đến với việc hành thiền, chúng ta không thể thật sự thấy rõ mọi thứ với một cái tâm đầy bản ngã, với một cái ngã lớn.
Vậy nên khi tôi có thể thấy rằng mọi thứ xảy ra, đều xảy ra
theo quy luật tự nhiên của nó, tôi trở thành một người quan sát không can dự, hoàn toàn
không can dự, không còn cố gắng điều khiển điều gì nữa, không còn cố gắng chống lại điều gì nữa, không còn cố gắng thay đổi điều gì nữa. Bởi vì trước đó, khi tâm tôi bị dao động hoặc khi tôi không vui, tôi cố thay đổi tâm mình, cố nghĩ đến điều gì đó làm tôi vui. Nhưng sau đó, tôi chỉ quan sát bất kỳ trạng thái tâm nào sanh khởi.
Vậy nên cái tâm quan sát này cũng
là anattā. Không còn là tôi đang hành thiền nữa. Đó là cái tâm quan sát đang quan sát một trạng thái tâm khác, quan sát bất cứ điều gì đang xảy ra trong thân và tâm. Vậy nên ngay cả trạng thái tâm đang hành thiền cũng chỉ là một trạng thái tâm. Không còn là tôi đang hành thiền nữa. Và điều đó làm tôi rất
giải thoát, theo một cách nào đó, rất tự do.
Vậy nên tôi để ý đến cái tâm quan sát này. Tôi để ý đến các đối tượng đang sanh khởi. Tôi để ý đến sự chú ý đang sanh khởi và thấy rằng cả hai đều diệt đi. Cả hai đều diệt đi. Và không còn có tôi đang hành thiền nữa. Đó là sự giải thoát đầu tiên.
Vậy nên khi tâm trở nên rất trong sáng, tỉnh giác, yên tĩnh và an bình, tâm cảm thấy rất nhẹ và sáng. Và tôi rất thích trạng thái tâm đó. Và từ trạng thái tâm đó, tôi có thể thấy mọi thứ rất rõ ràng. Bất cứ ý nghĩ nào hiện lên, tôi có thể thấy bản chất của nó một cách chính xác, rõ ràng.
Dù nó là tiêu cực hay tích cực, dù nó là thiện hay bất thiện, tôi có thể quan sát nó mà không dính vào, không bực mình về nó. Ngay cả khi có lúc một ý nghĩ bất thiện hiện lên, tôi có thể quan sát ý nghĩ bất thiện đó mà không bực mình về ý nghĩ bất thiện đó. Chẳng có gì để bực mình. Vậy nên với một cái tâm
không dính mắc, với sự không dính mắc, tôi có thể giữ bình thản và quan sát nó, và nó biến mất. Vậy nên khi tôi đến được trạng thái tâm đó, thì tôi nhận ra rằng atta hi attanon natho. Để đến được đó, để thật sự đến được trạng thái đó, để là nơi nương tựa của chính mình, bạn phải có chánh niệm, chánh niệm rất mạnh.
Và khi bạn phát triển được sự tỉnh giác rõ ràng, sự quan sát rõ ràng, khi bạn có thể quan sát mọi thứ rất rõ ràng, thì bạn có thể nương tựa vào chính mình.
Bạn trở thành nơi nương tựa của chính mình. Đây là giai đoạn nương tựa đầu tiên, không phải giai đoạn nương tựa cuối cùng. Đây là bước đầu tiên. Nếu chúng ta không làm được điều đó, chúng ta không thể đạt đến những giai đoạn nương tựa hay quy y cao hơn.
Vậy nên khi tôi đến được trạng thái đó, tôi cảm thấy rất tự tin rằng bây giờ
không có trạng thái tâm nào có thể thật sự chiếm hữu tâm tôi. Người ta bị các tham muốn chiếm hữu. Người ta bị cơn giận chiếm hữu.
Thật vậy, họ bị chiếm hữu. Nhưng nếu bạn có thể quan sát bất kỳ trạng thái tâm nào mà không dính vào, thì bạn không bao giờ bị bất kỳ tham muốn hay cơn giận nào chiếm hữu. Dù có lúc bạn có tham muốn cái này cái kia, bạn có thể quan sát nó và nó sẽ đi qua.
Không có vấn đề gì lớn. Nếu bạn không thể quan sát nó, thì bạn cảm thấy rằng tôi muốn cái này. Rồi khi cái "tôi" và cái "muốn" này đi với nhau, nó trở nên rất mạnh. Nhưng khi không có cái "tôi" trong sự muốn,
thì nó không còn là vấn đề lớn nữa.
Vậy nên mọi thứ trở thành vấn đề mỗi khi chúng ta ghép hai cái đó lại với nhau, tôi muốn, tôi ghét.
Vậy nên khi sự thù ghét sanh khởi, bạn có thể thấy rằng đây chỉ là một trạng thái tâm. Và không dính vào, bạn có thể chỉ quan sát nó. Nó sẽ đi qua rất dễ dàng. Vậy nên bất kỳ loại phiền não nào, hay bất kỳ cơn giận hay tham muốn nào cũng trở nên mạnh hơn nếu nó được sự hỗ trợ của tà kiến hay ý niệm sai lầm về cái "tôi".
Cái "tôi" và tham muốn đi với nhau, rất mạnh. Không có cái "tôi", bản thân tham muốn không mạnh. Cái "tôi" và cơn giận, khi chúng đi với nhau, trở nên rất mạnh. Khi có cơn giận mà không có cái "tôi", thì nó không có sức mạnh.
Vậy nên nếu bạn có thể quan sát nó, nó sẽ tan đi.
Vậy nên khi tôi làm được điều đó, tôi cảm thấy rất hạnh phúc về điều đó. Và tôi cảm thấy rằng bây giờ tôi tự tin rằng không tham muốn nào sẽ chiếm hữu tôi. Không tham muốn nào sẽ chế ngự tôi. Và đây là bước đầu tiên trong sự tự do của tôi.
Và khi bạn thực hành càng nhiều, bạn sẽ học được càng nhiều. Bạn sẽ thấy xuyên suốt. Và sự thấy và sự học này, tức là trí tuệ, sẽ tự làm công việc của nó. Không phải là tôi đang cố vượt qua tham muốn nào. Chính trí tuệ thấy xuyên suốt, thấy mọi trạng thái tâm, mới vượt qua được.
Vậy nên vượt qua bất kỳ tham muốn hay cơn giận nào là chức năng của trí tuệ.
Chúng ta không thể làm điều đó chỉ bằng ý muốn làm điều đó. Chính trí tuệ mà chúng ta phát triển bằng cách để ý, bằng cách có chánh niệm, bằng cách học hiểu bản chất của tâm và thân, mới trở nên tự do. Vậy nên chỉ có trí tuệ mới làm chúng ta tự do.
Vậy nên khi bạn đã phát triển được trí tuệ này, thì bạn thấy rằng đây là nơi nương tựa của tôi.
Vậy nên atta hi attanon natho. Bạn là nơi quy y của chính bạn. Bạn là nơi trú ẩn của chính bạn.
Bạn là nơi nương tựa của chính bạn.
Ai có thể là nơi nương tựa của bạn? Không ai khác có thể là nơi nương tựa của bạn. Vậy nên các vị thầy có thể dạy bạn, chỉ dẫn bạn, hướng dẫn bạn, giúp bạn, nhưng bạn phải tự làm công việc của mình.
Và điều đó rất đơn giản.
Ồ, cái này. Nirodha, sự chấm dứt khổ, sự đoạn diệt khổ.
Và câu hỏi này rất khó trả lời. Xin giải thích sự khác nhau giữa nibbāna thật và nibbāna giả, hay sự đoạn diệt, hay các tầng thiền vô sắc. Nhiều điểm quá.
Nibbāna là sự chấm dứt của hiện tượng. Đó là một định nghĩa. Vậy nên khi một người kinh nghiệm nibbāna, người đó không còn
kinh nghiệm bất kỳ hiện tượng nào nữa. Bất cứ điều gì sanh khởi và diệt đi đều là hiện tượng thế gian. Nhưng nibbāna không phải là một hiện tượng. Nó là tự nhiên. Nó là paramatta, nghĩa là nó thật sự hiện hữu. Nhưng sự hiện hữu của nibbāna rất khó giải thích. Chúng ta có thể nói về nibbāna theo cách phủ định, nó không phải là gì.
Nhưng rất khó nói nó là gì.
Nhưng chúng ta có thể nói rằng nibbāna là sự đoạn diệt của
tiến trình thân và tâm. Vậy nên trong việc hành thiền của chúng ta, lúc đầu chúng ta quan sát các tiến trình thuộc thân, bất cứ điều gì đang xảy ra trong thân: những rung động, những chuyển động, nóng hay lạnh, cứng hay mềm. Hoặc trong tâm cũng vậy, chúng ta quan sát nhiều thứ, nhiều cảm xúc, nhiều ý nghĩ, tham, sân, hoặc ngay cả những trạng thái tâm tích cực như mettā, lòng bi, chánh niệm, sự tập trung,
samādhi, upekkhā, sự thăng bằng của tâm. Nhiều trạng thái tâm khác nhau chúng ta có thể quan sát. Nhưng chúng ta vẫn đang quan sát những hiện tượng tự nhiên.
Và khi chúng ta hiểu trọn vẹn những hiện tượng thân và tâm này, khi trí tuệ mà chúng ta phát triển từ việc quan sát những cái này trở nên thật sự chín chắn, một cách tự nhiên nó đi vượt lên. Vậy nên đây là một điểm nữa mà chúng ta phải nhớ. Khi chúng ta hiểu một điều gì đó một cách hoàn toàn, trọn vẹn, thì bản chất của trí tuệ là nó đi vượt lên.
Tự nhiên nó vượt lên trên.
Mỗi khi ta hiểu một điều gì đó một cách trọn vẹn, trí tuệ sẽ vượt lên trên điều đó. Cho nên khi ta hiểu trọn vẹn các hiện tượng thân và tâm,
sự hiểu biết này vượt lên trên các hiện tượng thân và tâm và kinh nghiệm một thực tại, một cái gì đó không sanh cũng không diệt. Chỉ là sự an tịnh trọn vẹn, sự tự do trọn vẹn.
Rất khó nói về những chuyện này.
Và khi một người kinh nghiệm
cái này
trạng thái tâm này hay nibbāna này,
nó cũng đi kèm với trí tuệ sâu sắc. Và
các tầng jhāna chỉ là sự tập trung của tâm
nơi không có tham muốn, không có trạng thái tâm bất thiện nào khởi lên. Nó chỉ là tâm định, tập trung trên một đối tượng nào đó. Nó vẫn còn có một đối tượng, một đối tượng thuộc thế gian. Có thể là
như bạn có thể đắc jhāna bằng cách thực hành mettā. Bạn có thể đắc jhāna bằng cách quán
pathu vikāsinā
hay bất cứ đối tượng nào khác. Bạn có thể phát triển jhāna. Và ngay cả arupajjāna, bạn cũng có thể quán về cái không có gì và thật sự trở nên rất định trên đó, trở nên rất yên tĩnh và an tịnh.
Cái không có gì cũng trở thành một đối tượng cho việc hành thiền của bạn. Và vì chúng tôi sống trong rừng rất lâu, năm này qua năm khác, không có gì khác để làm ngoài việc đi khất thực, ăn và hành thiền cả ngày, nên chúng tôi đã chơi với rất nhiều loại thực hành thiền khác nhau.
Chỉ là thích thú chơi với những loại thực hành thiền khác nhau. Nên chúng tôi cũng thử cái đó và thấy rằng nó rất an tịnh. Và nó rất giống nibbāna. Bởi vì khi tâm bạn chỉ thẩm nhập vào cái không có gì, nó rất yên tĩnh và an tịnh. Nhưng điểm khác biệt là bạn có thể quay lại và thấy rằng bạn đang quán về cái không có gì.
Nhưng khi một người thật sự đang kinh nghiệm nibbāna, bạn không thể làm như vậy. Bởi vì ngay khoảnh khắc bạn quay lại và xem mình đang biết cái gì, thì bạn đã đang quan sát một hiện tượng, một hiện tượng tự nhiên, một trạng thái tâm rồi. Cho nên khi một người đang kinh nghiệm nibbāna, người đó không thể kinh nghiệm cái trạng thái tâm đang kinh nghiệm nibbāna.
Đó là điểm khác biệt.
Khó nói lắm. Tôi không biết các bạn có hiểu hay không.
Và sau khi một người kinh nghiệm nibbāna, cái...
Tôi không biết nói thế nào. Tính cách của người đó thay đổi đến một mức độ nào đó. Người đó sẽ không thể làm một số việc mà trước đây mình từng làm.
Ví dụ, việc giữ giới. Người đó sẽ không gian lận. Người đó không thể gian lận được nữa. Không thể nói dối được nữa. Thậm chí sẽ không nghĩ đến việc làm như vậy.
Cho nên có nhiều điều xảy ra cho một người. Và không còn ganh tỵ, đố kỵ nữa. Ngay cả ở tầng giác ngộ thứ nhất, người ta đã vượt qua tất cả những cái đó. Không ganh tỵ, không đố kỵ. Mặc dù lúc ban đầu, ở tầng giác ngộ thứ nhất, người đó vẫn còn một số tham muốn về các thứ, nhưng người này sẽ không
vi phạm bất cứ
giới nào như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối hay dùng chất gây nghiện. Sẽ không làm những điều đó nữa. Người này sẽ không làm bất cứ điều gì có hại cho ai, kể cả cho chính mình. Cho nên có người nói rằng: "Tôi chỉ thích uống thôi và nó không gây hại cho ai cả.
Vậy có gì sai đâu?" Nhiều người tranh luận như vậy. Nó không tốt cho bạn. Bởi vì có chánh niệm là điều rất quan trọng. Và bất cứ điều gì làm cho bạn bớt chánh niệm hay trở nên thất niệm thì thật sự có hại cho bạn và có hại cho mọi người. Cho nên ngay cả một người bình thường đang tỉnh táo, bởi vì chúng ta không tỉnh giác hay chánh niệm nhiều, chúng ta mắc rất nhiều sai lầm.
Và nếu bạn uống rượu hay dùng bất cứ loại chất gây nghiện nào, điều đó sẽ làm bạn càng ít chánh niệm, ít tỉnh giác hơn. Nên bạn sẽ mắc nhiều sai lầm hơn. Vậy chuyện gì xảy ra với những người lái xe khi họ say?
Họ gặp tai nạn. Chỉ mới vài tuần trước, tuần rồi, tôi thấy một vụ tai nạn. Tôi không muốn nhìn. Tôi chỉ thoáng thấy. Kinh khủng. Người trong xe bị kẹp nát bên trong xe.
Tôi không biết họ có lấy người đó ra được không. Tôi không nghĩ người đó ra được còn sống, bởi vì chiếc xe bị nát quá nặng.
Tại sao? Bởi vì họ không có chánh niệm. Nếu bạn lái xe với chánh niệm, bạn sẽ không gặp những vụ tai nạn xe kinh khủng như vậy. Có thể đôi khi bị va nhẹ. Cái đó không sao. Nhưng không phải là những vụ
tai nạn xe kinh khủng như vậy.
Và có nhiều điều khác cũng như vậy. Cho nên khi một người trở nên giác ngộ hay kinh nghiệm nibbāna, người này trở nên chánh niệm hơn. Chánh niệm trở nên khá tự nhiên đối với người đó. Không phải 100%, nhưng nhiều hơn
trước kia. Và việc giữ giới trở nên tự nhiên. Không phải
cố gắng vượt qua
cái mong muốn
vượt qua.
Không phải cố kiểm soát mình để không làm điều gì đó. Thật tự nhiên là người đó thậm chí không nghĩ đến việc làm điều đó. Ví dụ,
sẽ không thể nghĩ đến việc tà hạnh.
Không phải cố kiểm soát, mà là thậm chí không nghĩ đến. Cho nên nó trở nên tự nhiên đối với người đó.
Nhiều người thiếu trí tuệ nghĩ rằng, hoặc được người khác nói rằng, họ đã chứng đắc nibbāna. Làm sao phân biệt nibbāna thật với những trạng thái khác trông giống như nibbāna nhưng không phải? Ừ, có người cũng đã hỏi câu này với Ledi Sayadaw. Và Ledi Sayadaw nói: "Hãy đợi. Và khi bạn đi ra thế gian và đối diện với những hoàn cảnh khác nhau, những hoàn cảnh khó khăn, những hoàn cảnh đó sẽ thử thách bạn
và bạn sẽ bị lộ ra."
Vì quý vị không thể giả vờ được lâu. Quý vị không thể tự dối mình được lâu. Khi quý vị ở trong samādhi sâu và jhāna,
tâm quý vị thoát khỏi những cấu nhiễm. Quý vị cảm thấy như mình không còn cấu nhiễm nữa. Nhưng hãy đi ra thế gian, sống với mọi người, sống với đủ loại người, rồi những hoàn cảnh đó sẽ thử thách quý vị. Và bất cứ
kilesa hay phiền não nào quý vị có cũng sẽ hiện ra.
Và nếu quý vị trung thực, quý vị có thể nói rằng: "Ồ, mình vẫn còn những phiền não này."
Câu hỏi này cũng khá tương tự. Làm sao phân biệt được nibbāna với các trạng thái jhāna cao nhất?
Như tôi đã nói với quý vị, khi quý vị ở trong trạng thái jhāna, quý vị vẫn có thể quan sát tâm đó, trạng thái tâm đó. Nhưng khi quý vị đang kinh nghiệm nibbāna, quý vị không thể quan sát tâm thức đó. Tâm thức hay kinh nghiệm nibbāna không thể được quan sát. Chẳng hạn, khi chúng ta hành thiền,
chúng ta hay biết một điều gì đó, và chúng ta cũng có thể hay biết chính sự hay biết ấy.
Chính sự hay biết ấy có thể trở thành đối tượng của sự hành thiền của chúng ta. Và điều này quan trọng, chúng ta nên tu tập điều này. Khi quý vị hay biết sự hay biết, sự hay biết trở nên mạnh hơn và mạnh hơn. Nếu quý vị không hay biết sự hay biết, đôi khi quý vị có thể cảm thấy như mình đang biết rằng mình đang hành thiền. Nhưng khi quý vị lại hay biết sự hay biết này, quý vị có thể thấy rằng chính sự hay biết ấy cũng là một trạng thái tâm khác.
Nhưng khi một người đang kinh nghiệm nibbāna, quý vị không thể quan sát lại sự hay biết về nibbāna.
Điều này rất vi tế, rất khó. Tôi có thể xen vào một câu về điều này không? Tôi nghĩ trong kinh nghiệm nibbāna,
với những gì vượt lên trên
chủ thể và đối tượng, sự vượt lên ấy cũng vượt lên cả hành vi biết.
Có một trạng thái tâm, nhưng trạng thái tâm ấy không thể là đối tượng của một trạng thái tâm khác. Vì vậy đó chẳng phải là sự vượt lên trên sao. Đúng, nó vượt lên. Trên đối tượng. Vâng. Cũng như vượt lên trên
sự hay biết.
Những
tâm sở đồng hành, mà chúng ta gọi là
siddhīkās, tức là
chánh niệm, sự hay biết, dripatā, dri-siddhi, samādhi, chúng
đi kèm với tâm thức nibbāna. Vậy nghĩa là tâm thức ấy có sự hay biết, nhưng nó không thể hay biết chính nó. Vì vậy tôi mới nói rằng liệu đó có phải là sự vượt lên trên chủ thể và đối tượng. Đúng. Đúng. Đối tượng là nibbāna.
Đối tượng là nibbāna. Và chủ thể là sự hay biết về nibbāna. Nhưng
người ta không thể quan sát tâm thức đó. Vậy trong vipassanā, chúng ta có thể quan sát lại tâm vipassanā. Nhưng khi kinh nghiệm nibbāna, chúng ta không thể quan sát lại kinh nghiệm nibbāna.
Nên đó là một vấn đề.
Vậy
nó vượt ra ngoài hiện tượng.
Nibbāna không phải là một hiện tượng.
Câu số hai là. Nó là một trạng thái của cái gì đó. Nó là trạng thái kinh nghiệm cảm giác, nhưng ngay lúc đó quý vị không biết hay không hay biết rằng mình đang kinh nghiệm cảm giác. Chừng nào chủ thể còn vắng mặt, thì đó là siêu thế. Vâng.
Và một câu hỏi nữa trong cùng
câu số hai là: có cần phải từ bỏ kinh nghiệm phalla, quả, để chứng đắc sakadagami không? Hay tốt hơn là chứng
quả tầng thứ nhất hết lần này đến lần khác cho đến khi các tầng tuệ trở nên rõ ràng hơn?
Nghĩa là sau khi một người đã đạt được tầng giác ngộ thứ nhất, satāpattī-maṅga,
người ấy có cần từ bỏ kinh nghiệm phalla, quả, không?
Hai, nếu một người muốn hành thiền để đạt sakadagami-maṅga, người ấy phải phát nguyện nhưng đặt một giới hạn thời gian trong lời nguyện đó.
Trong vài ngày, tôi sẽ không kinh nghiệm tâm quả hay tâm satāpattī-phalla. Vậy trong vài ngày, trong ba ngày hay một tuần, tôi sẽ hành thiền với ý định
đạt sakadagami-maṅga.
Nhưng quý vị đặt một giới hạn thời gian. Nếu quý vị không đặt giới hạn thời gian, quý vị biết điều gì sẽ xảy ra không?
Nghĩa là quý vị sẽ không bao giờ trở lại
kinh nghiệm tâm satāpattī-phalla. Và quý vị có thích như vậy không?
Không. Bởi vì
an trú trong tâm satāpattī-phalla thì rất an tịnh. Nên quý vị đã đạt được nó. Vậy nên bất cứ khi nào quý vị muốn, bất cứ khi nào quý vị không muốn kinh nghiệm bất kỳ tâm thế gian nào, quý vị có thể quyết định hay phát nguyện rằng: bây giờ tôi đang hành vipassanā để nhập vào phala-samāpatti.
Và khi sự hành vipassanā của quý vị trở nên mạnh hơn, một cách tự nhiên quý vị nhập vào phala-samāpatti và không còn kinh nghiệm bất cứ điều gì thuộc thế gian nữa. Vậy đó giống như
đi nghỉ mát.
Đi nghỉ, tạm rời khỏi mọi hoàn cảnh thế gian, mọi chuyện thế gian.
Cho nên nó rất thư thái và an bình, điều mà quý vị đáng được hưởng.
Và quý vị không chắc mình sẽ đạt được tầng giác ngộ kế tiếp vào ngày đó hay tuần đó. Vì không chắc, quý vị nên quyết định và đặt ra một giới hạn thời gian rằng trong tuần này, tôi sẽ không nhập vào tâm quả hay tâm satāpattī-phalla, mà tôi sẽ hành thiền với ý nguyện đạt được tâm cao hơn.
Ngài mô tả sự tái sinh vào cõi trời như thế nào? Vâng, nói về tái sinh một lần nữa,
chúng ta phải nghĩ về chân lý theo hai loại. Nhiều lần người ta hỏi tôi cùng câu hỏi này.
Có tục đế và có chân đế. Trong tiếng Pali, chúng ta có samādhi-sacca và paramita-sacca. Vậy khi chúng ta nói về saṃsāra, chúng ta nói như thể có một người đi từ đời này sang đời khác. Theo tục đế thì điều này đúng.
Mỗi khi Đức Phật nói về kamma và quả của kamma, Ngài dùng
chân lý samādhi-sacca này. Ở mức độ đó, Ngài nói theo chân lý samādhi-sacca. Và cũng vậy khi chúng ta
hành mettā, chúng ta nghĩ đến con người. Và con người cũng
là chân lý. Họ là con người. Đàn ông, đàn bà. Vậy chúng ta nghĩ đến cha mẹ mình. Mong mẹ tôi được an vui. Mong cha tôi được an vui. Vậy chúng ta nghĩ đến cha hoặc mẹ và chúng ta nghĩ đến con người, đó là samādhi-sacca. Cũng vậy, khi chúng ta nói về saṃsāra và tái sinh, chúng ta nói như thể họ là những con người, chết đi và được sinh lại.
Đây là cách dễ dàng để giải thích điều đó. Nhưng cứu cánh mà nói, mỗi khoảnh khắc có các hiện tượng vật chất, hàng tỷ tỷ hiện tượng vật chất đang xảy ra và hàng tỷ hiện tượng tâm đang xảy ra trong một giây. Quý vị biết máy tính ngày nay chạy nhanh thế nào không? Bây giờ chúng đã đạt tần số vượt quá 1 giga
hertz mỗi giây. 1 giga hertz mỗi giây. Đó là rất, rất nhanh. Và họ còn đang phát triển những máy tính nhanh hơn nữa. Ngay cả máy tính có thể chạy
1 giga hertz mỗi giây và tâm còn có thể chạy nhanh hơn nữa. Vậy bất cứ điều gì đang xảy ra bây giờ chỉ là hiện tượng,
một chuỗi, một tiến trình. Và khi một người chết, nói theo cách thường tình, một người chết, các hiện tượng vật chất dừng lại.
Nhịp tim dừng lại và não ngừng hoạt động. Nhưng tiến trình tâm vẫn tiếp tục không gián đoạn.
Vậy khi chúng ta hiện nay, nói theo cách thường tình, khi chúng ta còn sống,
tâm chúng ta có chu kỳ hoạt động và giai đoạn nghỉ.
Vậy giữa hai chu kỳ hoạt động, có một giai đoạn nghỉ. Và nó tiếp tục như vậy. Trong tiếng Pali chúng ta gọi chu kỳ hoạt động đó là vīti, citta. Còn chu kỳ nghỉ này là bhoyinga. Và chu kỳ nghỉ bhoyinga này giống y như tâm tái sinh.
Vậy chúng ta không hay biết trạng thái tâm đó. Và khi chúng ta chết, điều xảy ra là sau một chu kỳ nghỉ, có một — ý tôi là, sau một chu kỳ hoạt động, có một bhoyinga khác, một chuỗi tâm, đó là tâm tử và rồi lại một tâm tái sinh khác.
Vậy chúng ta không thể chết khi đang ở trong chu kỳ tâm hoạt động, tiến trình hoạt động của tâm. Chúng ta chỉ có thể chết sau chu kỳ hoạt động đó, rồi chúng ta chết. Và khi chúng ta tái sinh, tâm đầu tiên
giống y như trạng thái nghỉ của tâm này, rồi lại một chu kỳ hoạt động khác, trạng thái tâm tái sinh. Vậy tiến trình đó hoàn toàn giống như những gì đang xảy ra bây giờ. Nên sự chết và tái sinh không có chỗ ngắt. Đó là một tiến trình liên tục.
Khác biệt duy nhất là
tiến trình tâm
xảy ra với một hiện tượng vật chất khác, sinh khởi cùng một hiện tượng vật chất khác.
Vậy thật ra không có gì khác biệt. Cho nên khi chúng ta có thể quan sát các trạng thái tâm rất sát sao, đôi khi chúng ta có thể kinh nghiệm được khoảng trống giữa các chu kỳ tâm hoạt động.
Nó rất ngắn. Và quý vị có thể hỏi, làm sao điều đó có thể được? Vì nó quá ngắn. Điều đó có thể được vì
mỗi khi chúng ta kinh nghiệm một điều gì giống nhau, các chu kỳ hoạt động sinh khởi rất nhiều, hàng triệu lần. Và vì chúng giống nhau, dù chúng sinh khởi cái này tiếp cái kia, nó giống như quý vị đang chiếu
cùng một hình ảnh lên màn hình,
những hình ảnh giống y nhau lên màn hình.
Vậy nếu quý vị chiếu những hình ảnh giống y nhau lên màn hình thì nó sẽ hiện ra như thế nào? Nhưng thực tế thì hình ảnh xuất hiện rồi biến mất liên tục. Nhưng cái xuất hiện thì giống y cái đã biến mất. Nó sẽ hiện ra với quý vị như thế nào?
Vẫn liên tục. Đúng vậy. Quý vị cảm thấy như nó vẫn là một hình tĩnh. Quý vị kinh nghiệm nó như một hình tĩnh. Cũng vậy, khi quý vị phát triển samādhi rất cao và sati rất cao và quý vị quan sát các trạng thái tâm của mình, những trạng thái xuất hiện lặp đi lặp lại, giống y nhau, quý vị thấy tâm đó như thể nó đứng yên.
Vì vậy, quý vị cũng có thể quan sát được trình tự. Nhưng để đến được đó thì rất khó. Quý vị cần rất nhiều thời gian và thực hành mới có thể quan sát được tâm mình. Nên quý vị có thể thấy các trình tự bởi vì nó xuất hiện giống y nhau hàng tỷ lần. Quý vị có thể thấy cái này tiếp cái kia.
Rất thú vị. Tâm khảo sát đối tượng, tâm quyết định rằng đây là cái này, và tâm tiếp nhận đối tượng đó, và tâm thưởng thức đối tượng đó, quý vị có thể thấy tất cả những cái đó. Nhưng không dễ.
Và vì vậy, đôi khi quý vị kinh nghiệm rằng có một khoảng trống giữa tâm này và tâm kia.
Và đây là một câu hỏi bằng tiếng Miến.
Câu thứ nhất là: "Nāvat ilā loning eyam yao nay usu bādhi." Không, điều này không đúng.
Chỉ việc giữ được năm giới không phải là bảo đảm rằng quý vị sẽ không tái sinh vào cảnh giới thấp.
Và câu hỏi khác là: "Tota pan ti liyā māvat ilā gocchē myyī saṃśa nayu usu bādhi." Điều đó đúng. Khi quý vị trở thành
người nhập lưu bậc đầu, nghĩa là quý vị đã đạt tầng giác ngộ thứ nhất, thì tự nhiên quý vị giữ năm giới. Nó trở thành tự nhiên.
Nếu điều này đúng, xin giảng giải chi tiết.
À, tôi không biết giảng giải chi tiết thế nào. Tôi đã nói về điều đó rồi.
Chúng ta đã làm nhiều việc thiện và cũng đã làm nhiều việc xấu. Và chúng ta không thể xác định hay không thể nói
cái nào sẽ trổ quả khi chúng ta chết. Nhưng tự nhiên là, điều gì chúng ta có thói quen làm
thì điều đó hiện ra khi chúng ta đang chết. Và
mặc dù chúng ta đã làm nhiều việc xấu, chúng ta cũng đã làm nhiều việc thiện. Và vì việc thiện mạnh hơn việc xấu, nên chúng ta có mặt ở đây. Nếu không, chúng ta sẽ không ở đây.
Và câu hỏi thứ ba này,
nếu bạn là một
người lính
và bạn giết người, bạn có
phạm giới không? Bạn có giữ được giới không? Không. Nếu bạn giết người, làm sao bạn giữ giới được?
Và làm người lính, bạn có thể gọi đó là chánh mạng không? Câu hỏi rất khó.
Sát sanh không thể là chánh mạng.
Và câu hỏi số bốn này,
vâng, tôi đã đọc câu đó.
Các vị thầy.
Tôi đã sống hai tháng ở Popa, ở Miến Điện, nơi rất nổi tiếng về
cái gọi là các vị Weizza, Weizza-daw. Nhưng tôi chưa từng gặp ai ở Popa. Dù tôi có gặp những người đang tu tập để trở thành một vị như vậy, tôi chưa từng gặp ai là Weizza thật hay Weizza-daw thật. Bằng tiếng Anh thì gọi là gì? Các đại sư, hay gì đó, tôi không biết dịch sang tiếng Anh thế nào.
Các tiểu pháp.
Tôi chưa từng tin vào các vị Weizza hay các vị ấy
nhưng tôi được thầy tôi gọi cùng đi qua một giấc mộng
và bắt đầu trải nghiệm. À, cuối con đường là giấc mộng huyền bí. Thật ra, dòng truyền thừa gốc của tôi là từ dòng Weizza.
Nhưng tôi ngồi trên hàng rào, ở cả hai bên.
Tôi khởi đầu là người hành Vipassanā và xem con đường Samatha rất thấp. Chỉ khi tôi được gọi trở về dòng truyền thừa, tôi mới nhận ra mình đã rất vô minh
và đầy ngã mạn, sự tự hào sai lầm.
Nên từ kinh nghiệm của chính mình, tôi không thể nói điều này.
Nhưng mỗi người có con đường riêng của họ.
Vậy đây là những điều tôi không có kinh nghiệm gì. Do đó, tôi không thể nói gì từ kinh nghiệm của chính mình. Tôi chưa từng gặp một vị nào.
Vậy tôi nghĩ đó là hết câu hỏi, vì tôi đã trở lại cùng một câu hỏi. Làm một vị tỳ khưu thì như thế nào?
Tôi nghĩ nó phù hợp với tính cách của tôi. Và tôi rất hạnh phúc khi làm tỳ khưu suốt 27 năm. Và đó không phải là lối sống khó. Với tôi, nó như cá trong nước.
Và với những ai tự nhiên có khuynh hướng làm tỳ khưu, đó không phải là đời sống khó. Khó khăn duy nhất là — bạn biết khó khăn duy nhất của tôi là gì không — người ta cho tôi quá nhiều đồ ăn.
Và có lúc họ rất buồn vì tôi không ăn hết những gì họ cúng dường. Và mới đây một người rất buồn và nói: "Vị sư này tham sống lâu. Vì vậy ông ấy không ăn những gì tôi cúng dường cho ông ấy ăn."
Vậy đó mới là đời sống khó.
Vậy là hết câu hỏi. Rất vui được gặp và nói chuyện với các bạn.
Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau. Nhưng giờ tôi phải đi một quãng đường dài về và còn việc khác phải làm. Nên tôi phải xin phép. Vậy để kết thúc buổi pháp thoại và thảo luận chiều nay, chúng ta hãy tôn kính Buddha, Dhamma và Sangha bằng cách tụng: Imāya dhammānudhamma paṭipattiyā Buddhaṃ pūjemi.
Imāya dhammānudhamma paṭipattiyā Buddhaṃ pūjemi. Imāya dhammānudhamma paṭipattiyā Dhammaṃ pūjemi. Imāya dhammānudhamma paṭipattiyā Saṅghaṃ pūjemi.
Bằng sự thực hành theo lời dạy của Đức Buddha, con đường dẫn chúng ta đến giải thoát, chúng ta tôn kính Buddha, Dhamma và Sangha.
Sādhu, sādhu. Nếu một người đã phát nguyện hay có quyết định không nhập lại sơ thiền (phala) nữa, họ có thể từ bỏ lời nguyện đó không? Và họ từ bỏ bằng cách nào? Có được không?
Nhớ câu hỏi về việc làm sao từ bỏ chứ? Bạn có thể từ bỏ lời nguyện không? Bạn có thể từ bỏ quyết định đó không? Như nếu bạn không đặt giới hạn thời gian cho nó?
Giống như một vị Bodhisatta có thể từ bỏ lời nguyện của mình ở một lúc nào đó, tôi đoán vậy. Có thể được không nếu ai đó không đặt giới hạn thời gian cho quyết định của mình? Nếu một người không đặt giới hạn thời gian, thì sẽ khó cho người đó nhập vào cái pháp paṭi ấy. Tôi biết chính xác. Họ có thể từ bỏ lời nguyện đó không? Họ có thể vào và nói: "Được rồi, tôi từ bỏ lời nguyện
không nhập Sattvapati và Agga-bhava và hava?" Vậy nghĩa là nhập lại lần nữa. Vâng. Vâng. Như là họ có thể xả bỏ nếu họ đã phạm sai lầm đó không? Nếu họ không đặt giới hạn thời gian cho nó, họ có thể quay lại và xả bỏ lời nguyện không làm điều đó không? Điều đó có thể làm được. Tôi tin là có thể làm được. Nhưng quý vị phải hành Vipassanā lại.
Ồ, thú vị. Chi tiết. Được rồi. Vâng. Đây không phải câu hỏi của tôi, mà là câu hỏi của một người khác. Đó là một câu hỏi rất thực tế vì họ không biết là không nên đặt giới hạn thời gian cho nó.
Và vì vậy. Đặt giới hạn thời gian. Bất cứ lời nguyện nào quý vị lập, rất quan trọng là phải đặt giới hạn thời gian. Tôi hiểu. Vâng. Nhưng nếu họ đã phạm sai lầm và không biết phải đặt giới hạn thời gian cho nó, thì bây giờ họ có thể quay lại sửa được không? Điều đó có thể làm được, nhưng họ phải hành Vipassanā ráo riết hơn.
Điều họ thấy là một cách tự nhiên, vì tâm họ đã biết con đường tuệ giác, nên tự nhiên nó đi vào và đi qua các tầng tuệ khác nhau hết lần này đến lần khác. Nhưng vì họ không xả bỏ lời nguyện và vì họ đã lập lời nguyện đó mà không có giới hạn thời gian.
Đây là phần kết thúc của buổi thảo luận bằng tiếng Anh. Phần còn lại bằng tiếng Miến. Shwami Nāvat Jāyam Meshyā Kundala. Chúng ta
Vipassanā Dhya Time Ready Awareness Bodhi, Tati Tati Candāraya Tati Tati Meshyā Sāyan Sā Tati Tvā Tvā Tati Cāy Cāy Ziga Tati Ma. E Tati
Yāma Loka Pāni Ti Yajitam Nāvat Dhya Sābya Dhya Jamoan Ma. Nāvat Dhya Nivedhā Tusya Seva Vapā Bhāva.
Tusya Seva, Mchinai Luka, Tusya Jeva.
Tusya rồi wholesome disciple Chennai Sohee. Ti Luka Ngajaya Tvasya Caum Sipa. Sāya Lukā Bhāva. Ngajaya Tvasya Caum Sipa. Yuyu Nāvat Dhya Ti Yāra Conditioning Bodhi, Control Luka, Ti Laya Bodhi.
Ti Stream Enterary Luyu Vā Tvāva Lya Madhok Chennai Sai Bhāra Bhuva. Control Luka, Laya Bodhi. Elud Luyu Ara, Tvāva Lya Ti Jaya. Vipassanā Nyāya Yin deh no? Sāra Māra Dvipa deh. Tu slā tota parun kora no? Nandiyā Yudhya Uti deh. Nandiyā Yudhya Caum Cucum Cidesa Rāti deh.
Anata Uti de bu. Anata Nyāya Thalusi Yin. Adi Anata Nyāya. Masongsong Bene. Masongsong Bene bu. Ti Nyāya Yani Dhumāpe. Được rồi. Saumvāra Sohee. Piti Bhāra. Pemalā Nengu deh no. Dharmā Mahoyin Dho. Yuyu Nāvat Dhya Thayu Nero Ti Jayalu Mabhyanengu.
Dharmā di Vipassanā Nyāya Tvāva Bhāre Ti Jayalu Bhyanengu deh no. Nata Nata Bhārima Di Lube. Pemalāra Bhulu Bhya Lumyā. Pemalā Bhūya Ti Jayare Dakudī Dho. Ti Agara Nezon Tata Pati Me Yāma Pyadā deh no. Nāgunā Dgāyibyā Te Mā Nāvat Dhya Uthembuya Dhoe.
Tati Sura Pāni deh no. Nāvat Dhya Uthembuya Mādri Pāni Ingu bhe. Adi Tati Gāle Bhe Vipassanā Pyatvāra Bhe.
Kusei Te Mā Dakudhū Lopu Cāy Sīre Suyara Uthini Vyu. Ti Niro Dhiya Uthini Rāgu Gā Tati Pudhantīya Atho Nira Bhe. Tajau Puhaniro Dweji deh. Belu Kudu Mnyuwa Pyipihe. Adi Kudu Mnyuwa Dake Kaungzong Sengya Ong. Lumelu Yue Thabiro. Kaungzong Pyondā Jozani Tati Sura Mabhā Lumyā Lo.
Adi Tati Bhāra Bhī Sohee. Te Pyibinē Vipassanā Nyāma Pyadā Ma. Umasvara Dāna Lurave Suhongzong deh no. Dakudhū Lurē Sohee. Ngābilu Sengyūne Lurale Ngābilu Sengnā Lurale Surau. Ti Chācīme Sohee. Kusei Kukuci Yāya deh no. Bhāo Mnyo Lembi Lurale Loku Sengnauku Elud Jidē Lecheng Mya Lalusi Yin.
Te Pyibinē Adi Sengnauku Bhūra Mnyala deh. Adi Sengnauku Mnyenīrē Sohee Ngubē Tati Vipassanā Pāvi Dhya Pyatvāra Bhe. Adiluvē Ti Lawa Lonchong Songthinē Sohee Rāya Di Dembe Dakudhū Chennai Chongla Bhī Sohee. Sēkā Bhāra Loku Cāy Sengnevi Lhe. Te Nhevi. Dakudhū Bhyaura Meshyā Sohee. Bhāo Bhyauma Lhe Bhāyujaṇe Bhyauma Lhe. Ti Sagā Māyā Lha Juśīya Lha.
Tati Thānevi Sohee. Aluluninē Tura Tampasenya Sura. Pānevi no. Tadaka Tampasenya Nurjo. Tapāya Tampasenya Nusura Sīre no. Juśīya Lha. Dhyāpāya Lha. Tendaya Lha. Kosara Tampasenya Ādhā Moha Tampasenya Sura. Tampasenya Leva Sīrau no. Kosara Tāmen Sura. Di Ijawāya Āyunpibūyā Thayuya Lha.
Di Ijawāya Di Kesā Miyū Dwenibū Thayya Lha. Aravo Tati Thāpra Jin Losi Yin. Te Pyibinē Ādhā Moha Tampasenya Pyadā Ma. Ādhā Moha Tampasenya Sura. Māyāna Nyāma Sīrau no. Nyamāyā Dvāra Sīrau no.
Kudu Dakudhū Bhū Dake Tati Nyāya Nyāma Sengbiro. Tu Kaungzong Sengya Ong Dake Lumel Sohee. Te Pyibinē Vipassanā Pyatvāra Bhe.
Adi Tati Pāni no. Vipassanā Pyatvāra Bhe. Cekaya Dhya Bhāra Sura. Tiraru Sushummā Jayāra Payāvu Dhuyāra Juśīya Loma. Nāutangā Rāde Suvinē Nāutassenga Bhyaā. Tosibinē Kuhāra Kudu Jayana Payāle Sonate Nāru. Tangā Rēsna Dāyanae Sengnā Dhuyāra Pejanā Vyā.
Chukatai Meshyā Sohee Nē Kauśīya Tavadaya Tavaggū Yejidong Niyāyā Dhuyāra Tavadāra Bhā Pejarā Bhe. Adi Gāyibyāra Punyāyā Teti Bhā Jāya no. Arāle Bhyauma Nenoro Kete no. Dhāyābhya Punyāya Bhyaajimi.
Amābhima Lumbhu Yin Patebro Luram Dhanēra no. Umasvara Punimogam Yuyuya Kete no. Adimāle Ti Lube Dekarengmari Suvira Dhya Caum Bhyaojā Sujā Mejā Sohee Nijaro Dekarjaka Mejāra Sembyāra Teviro Dāyavimā Payā Devu Caum Sāpua Lukāye Lumedu Mya Bhāre Dhe. Sātenjāon Toa Sēyondo Lukāya Nurulun Dhanē Bhāre Dhe.
Bhajā Bhāre Dhe. Sātenjāon Toa Lukāya Sēyondo Lukāya Bhāre Dhe. Kudu Yāra Nēre Luyuysā Lula Dho. Nebā Dhoe Tavama Pienaimbu Luyuysā Lula Bhāre Dhe. Mejāra no. Arāle Dake Piyamā Bhe. Payā Dhya Caum Dhuyāra Lukāma Sohee Nurulumyāra no. Sātenjāon Toa Sēyondo Lukāma Suvira Dhuyā Nēne deh.
Nāle Tājāraga Payā Dhuyāra Kudu Bhuyā Rhe no. Caum Sāpua Luyuysā Lala Imdang Kudu Jire Lula Payāva Dharāo no. Māma Rhe no. Yahantanga Luarā Turuken Riyātanga Luarā Sukupra Jōnyā Rhe. Taro Tenshā Payāva Luvāme Sono. Jōnyā Zombo no. Māma Rhe arā no. Varusha Dharāriyā Dekhonau. Adiluvu Kudu Mya Rāgu Lubo Subro.
Jivejā Thāle Dekha Cherab Māyima Lumhuye Dua Lurā Te Pyibinē Tvāra Dhuyāra Bhe. Arāvo Leve Punyāva Ludule Sura. Arājaon Leva Māyā Tima. Tute Bhuloten no.
Lumhuye Nē Pati Dake Sāryamā.
Dakudhū Lumel Sohee.
Keke Mya Ishi Ne. Vyarāre Lysā Vidhema Elud Surara Sega Pūtana Dāyana Maduē Mninawā Sengarega Bhū Rule Lidyā. Punyāra Cengyā Bhyaula Mnyuwa Tuvosyā Lhe Shambe Tujinē Luriya Mya Lomadhilo Dakare Mnē Tumbra Luarā Ote.
Kudu Yāma Tvāra Luarā Dāyana Kutada Chanara Nāute Cēsī Dere Dhyā Surenya Māyā Dhuyāra Lysāra Iribe Bhya Sommā Bhāre Ti Surekama Ti Sērenāwā Mbudhido Bhāre Yenwa Sērenā Tai Makaunē Luriya Dhe. Puvama Chañang Dada Niyāve Nero Sosopyāpyā Bhē Nejenē Bhāre Adi Kaungam Muvu Ochyōm Kaungam Muvu Madwāryaō Msāya Matāyā Bhē Nē Laka Pyadā Bhe.
Arāle Teviro Tei Sektehan Bhuvimjā Bhe. Varusha Dhakāritā Gua Chīlongi Lē Nē Nonon Lē Nē Suru Neru Kaunā Nē Pūrungi Shoshashashā Nē Bhēmibhāma Nē Nē Dhyāva Lukṣenāyā Vaisāyasimhā Pyaulū Kuvāvu Lunon Luchā Mhōu Yembuwa Kaungam Lukhede Dāyana Pyugede Lusolu Rukh Lauchenō Wotamsā Mhō Devyā Arā.
Arāle Gāyibhya Bhidhubhā Bhya Bhya Kua Kose Chanā Lurā Olai Bhāre
Bhe. Punyāra Leve Lube. Tai Kaunā Nē Uttangāsu Mūnē Mūnē Nāra Tai Kaunā Nē Uttangāsu Ulu Goma Kaunā Uttangāsu Shōhē Nē Jāyā Lalongo Mhōchinō Bhera Muvu Yuyu Dil Uttangā Lebe Teyō Nākawā Tawibō. Asāwū Tai Kaungam Mungilē Lauchenō Tuvu Kaunā Jiro Tuvu Kaunā Sapra Bhivimyāre Tendaya Adi Tāvantara Jire.
Nao Sing Toka Yorōsha Ukuwa Tataon Tata Niyāme Sāta Āyī Nē Mācucuji Nē Luyu Niyāyā. Arāle Bhidhubhā Bhya Bhya Kua Kose Channā Oni Leda Kaumā Nē Nhe. Upu Changa Nivai Nē Chenriya Hōlunju Kūkā Bhya Horō Rē Teviro Luarā Tammayuwa Bhode Putabada Senlao Gāyishangā Leru Sura.
Adi Peta Seyō Pāra Jayara Nupuvueno Mchā Bhāre Dhe. Sīre Dhyā Sāta Lhe Yembuwa Kaungam Mudulare Tojan Vaisāyasivā Nē Kaunā Msā Nē Bhāre Tammendyā Nive Pebyō Dive Jaydasa. Adi Gāyibhya Luyuysā Punyāra Lukinah Hingamongso Te Msā Jinmi no. Adi Yabyog Leva Lezono Puchaygā Nē Nhe.
Chama Yenē Niyoda Yuebisara Bhāre no.
Lumyāga Kaunē Luthenaga Yadha Kū Dika Tarao no. Chama Yidomiyu Nyugu. Wosāle Lube Chama Yenē Niyō Nyanglinē Shempra Upu Bhe. Sāle Lube Chama Yenē Niyō Nyanglinē Shempra Sābu Bhe. Mya Kaunē Surang Dike Kaunē Lubyolu Mya Bhāre. Arāle Bhidhubhā Bhya Bhya Kusei Kukuti Bhāre no.
Kudu Sili Nē Nire Si Chanda Nire. Chūjā Nē Chuidā Rhe. Kumma Pura Shanāo Kū Lau Buzongde Luribu Mya Probile Dhe. Soinda Pira Bhāre Tumyābhā Bhya Bhya Bhā.
Kusei Kutī Bhāre Iya. Punyāra Leve Lube Mnyu Bhyaojā Sujā Wibanjara. Wibanjara Punyāra Luthenaga Lusora. Kusena Kutī Bhāre Te Kōmato Bhāri Arāle Bhe. Ti Shinjā Bhimnewu no. Lure Wibanamyā Phi Shinjā Lai Bhiniā Somamhōu.
Mnyu Mnyu Wibankhā Rhe.
Dekāyirō Wibalainē Lube Bhya Lai Bhā Kua Kose Chanda Lunirabā Ne. Upekhanē Bhe. Taba Upekhanē Bhe Nirvāyu Mhe. Kusena Kutī Bhāre Ne.
Adi Gāyirō Ringmahirunē Tuyāpasuma Bhya Sura. Kaumā Nē no.
Adi Nabhīro Dhetaro Jāva Yan. Vijayagune Dhyā.

Thiền sư Sayadaw U Jotika sinh ngày 05.08.1947 trong một gia đình Hồi Giáo ở Miến Điện. Thời niên thiếu Ngài được gia đình gửi học và được giáo dục trong một trường dòng Thiên chúa giáo, tốt nghiệp kỹ sư điện tử và nghiên cứu sâu rộng về khoa học, tâm lý học, triết học phương Tây.…