Bỏ qua điều hướng
WisdomKey
Thiền sư U Jotika
Pháp thoạiEN

A rebel and his freedom

Thiền sư U Jotika · 20/06/2002 · 1:48:22 · 0 lượt nghe

0:001:48:22

Nguồn: bài giảng gốc tiếng Anh. Bản Tiếng Việt là bản dịch máy do giọng đọc AI đọc; tệp gốc giữ nguyên.

Tải về

Giới thiệu bài giảng

Âm thanh được phát nguyên gốc như tệp đã tải lên, không chuẩn hoá, không chuyển mã.

Bản phiên âm

Nhấn vào mốc thời gian để nghe từ đoạn đó. Bản dịch tự động, có thể chưa chính xác. Bạn có thể đề xuất sửa từng câu. Phiên âm là văn bản kèm theo, không thay đổi âm thanh.

Xin đừng bỏ lỡ cơ hội hiếm có này, hãy tiến lên phía trước.

Nếu có ai muốn bắt đầu trước, đây là buổi thảo luận Dhamma. Quý vị có thể đặt bất cứ câu hỏi nào về thiền, về thiền Vipassanā, hoặc, à, bất cứ điều gì về Phật giáo.

Tôi đã viết bằng tiếng Miến. Tôi đến từ Miến Điện.

Tôi ở đây, tất cả đã được viết ra.

Tôi cần suy nghĩ, để dịch sang tiếng Anh.

Ai muốn giúp tôi dịch sang tiếng Anh? Tôi không muốn để quý vị phải chờ tôi.

Cảm ơn quý vị rất nhiều.

Có câu hỏi nào không?

Vậy thì, sẽ tốt nếu quý vị có thể viết câu hỏi của mình ra giấy,

để tôi có thể đọc và

hiểu rõ câu hỏi của quý vị. Có khi hiểu được câu hỏi cũng đã khó. Vậy nên trước khi chúng ta bắt đầu thảo luận Dhamma, à, để làm cho,

à, để cho buổi này được tốt lành, chúng ta hãy đảnh lễ Đức Phật.

Vậy

tất cả quý vị có thể tụng Namo sutra, Namo tassa. Vậy chúng ta cùng làm. Namo tassa bhagavato parahato

samā sambudassa. Namo tassa bhagavato parahato

samā sambudassa.

Namo tassa bhagavato parahato samā sambudassa.

Và vị đã giới thiệu tôi với quý vị có nói rằng

tôi từng là một kẻ phản kháng.

Quý vị biết chữ rebel không? R-R-E-B-E-L, rebel.

Tất nhiên là quý vị biết rồi.

Tôi đã, à, được bảo rằng tôi là một kẻ phản kháng từ khi còn rất nhỏ. Lúc đó tôi không biết chữ rebel nghĩa là gì, nhưng về sau tôi tìm ra nghĩa của nó. Bởi vì tôi muốn tự mình suy nghĩ và làm việc theo cách của riêng tôi.

Từ khi tôi còn rất nhỏ, cha mẹ tôi và các thầy của tôi,

à, thấy rằng tôi rất khó trông. Vì tôi không nghe lời ai cả. Điều đó—điều đó không có nghĩa là tôi không tôn trọng họ. Có thể điều họ nói với tôi là đúng, hoặc có thể sai, ai biết được.

Vậy nên từ khi còn rất nhỏ, tôi đã bắt đầu tự mình suy nghĩ và cố tìm ra những điều tôi muốn biết, theo cách của riêng tôi. Đó là con đường khó, và mất nhiều thời gian hơn.

Nhưng tôi thích học theo cách khó. Bởi vì học theo cách khó, mình học được thật sự kỹ. Nếu mình chọn cách dễ, mình chỉ học rất hời hợt. Vậy nên tôi thích tự dạy cho chính mình. Ngay khi còn nhỏ, tôi đã thích đọc những sách như Tự Học, về bất cứ môn gì.

Hồi chúng tôi còn nhỏ, trong các hiệu sách có những cuốn mang tựa Tự Học. Ngay cả bây giờ, đôi khi tôi vẫn thấy những cuốn sách như vậy trong hiệu sách.

Vậy nên để tự mình tìm ra, quý vị cần, à, phải nỗ lực nhiều hơn.

Và điều này tôi cũng học được từ lời dạy của Đức Phật.

Từ khoảng 12 tuổi, tôi đã bắt đầu đọc sách Dhamma. Trước đó, tôi đọc rất nhiều truyện, sách phiêu lưu.

Và khoảng 12 tuổi, tôi bắt đầu đọc những sách nghiêm túc, như sách Dhamma, sách triết học, sách tâm lý học.

À, tôi không có ý nói rằng tôi hiểu

hết những gì tôi đọc, vì tôi còn quá nhỏ. Nhưng dù sao, tôi thấy mình bị Dhamma thu hút từ khi còn rất nhỏ. Vậy nên khi tôi đọc sách Dhamma, một điều

đã làm tôi, à, thật sự thích thú với lời dạy của Đức Phật là một lời khuyên của Đức Phật. Và tôi sẽ tụng lời đó bằng tiếng Pali, vì đây là điều rất, à, rất thấm sâu vào trái tim tôi.

Và bằng tiếng Pali:

"ad dahi ad no na to."

Có ai từng đọc câu kệ Pali đó chưa? Có ai trong quý vị đã đọc chưa? "Ad dahi ad no na to, ko hi na to ro siya."

Có ai từng đọc chưa? Chính mình là nơi nương tựa của mình. Làm sao ai khác có thể là nơi nương tựa của mình?

Và đó là nghĩa của hai dòng ấy. Câu kệ có bốn dòng. Và hai dòng còn lại: "ad dahi ad no na to, ko hi na to ro siya, ad na hi su dan tena, natha labhati dolabham." Bằng cách tự tu tập chính mình, bằng cách tự khéo điều phục chính mình, ta đạt được nơi nương tựa ấy, điều rất khó đạt được.

Hay là ta chứng đạt được nơi nương tựa rất khó chứng đạt ấy. Vậy nên khi tôi còn nhỏ hơn,

Tôi đã không hiểu được chiều sâu ý nghĩa của những câu này, à, của bài kệ này. Tôi chỉ hiểu rất hời hợt hai dòng đầu. Rất hời hợt. Nhưng dù chỉ vậy thôi, nó cũng đã thay đổi thái độ và cuộc đời tôi, hoàn toàn. Bởi vì khi tôi đọc lần đầu

lời khuyên này của Đức Phật, Đức Phật nói: "Chính mình là nơi nương tựa của mình."

Điều đó thật phi thường, thật sự vậy. Bởi vì

suốt bao lâu nay người ta luôn nói với tôi rằng tôi phải nương tựa vào ai đó khác.

Nhưng ở đây, Đức Phật nói: "Chính mình là nơi nương tựa của mình." Và điều đó làm tôi suy nghĩ khá lâu. Mà tôi cũng thích suy nghĩ. Tôi thật sự yêu việc suy nghĩ, và tôi thấy thích thú khi suy nghĩ. Nên tôi nghĩ tôi đã đọc từng chữ rất cẩn thận và cố hiểu ý nghĩa

khi tôi suy ngẫm đi suy ngẫm lại. Vậy "Chính mình là nơi nương tựa của mình" có nghĩa là bạn cũng có thể nương tựa vào chính mình. Bạn đáng tin cậy. Bạn có thể nương tựa vào chính mình. Bạn có thể tin vào chính mình.

Vậy điều đó có nghĩa là bạn có thể huấn luyện chính mình để trở nên tự nương tựa được.

Và điều này cho tôi rất nhiều can đảm và tự tin. Tôi bắt đầu nghĩ, đúng rồi, tôi có thể nương tựa vào chính mình. Tôi có thể học, tôi có thể tìm ra. Tôi có thể thử nghiệm, và tôi có thể tìm ra.

Vậy điều này đã cho tôi rất nhiều can đảm

để tự mình tìm ra. Và khi tôi đọc nhiều tôn giáo khác và nhiều, à, triết học,

à, càng học nhiều

những tư tưởng hay triết học khác, tôi càng trân trọng lời dạy của Đức Phật. Bởi vì trong phần lớn các trường hợp, người ta không khuyến khích người khác

tự suy nghĩ cho chính mình, tự tìm ra cho chính mình. Phần lớn những người lãnh đạo muốn nói với những người theo họ rằng: "Hãy tin tôi. Hãy làm điều tôi bảo bạn làm." Nhưng ở đây, Đức Phật nói: "Bạn có thể tin chính mình, bạn có thể nương tựa vào chính mình, bạn có thể tự mình tìm ra." Và khi tôi đọc về những đặc tính của Dhamma, Đức Phật nói: "Người ta có thể thực hành và tự mình tìm ra, xem Dhamma có thật hay không."

Vậy Đức Phật mời gọi người ta thử nghiệm, tìm ra.

Nên khi tôi nghĩ, à, tôi có thể nương tựa vào chính mình, tôi có thể học, tôi có thể thử nghiệm và tự mình tìm ra, tôi không có ý nói rằng tôi không nhận lời khuyên của ai cả. Tôi đã có nhiều vị thầy, thật ra là nhiều vị thầy tốt. Và tôi rất biết ơn họ vì những gì họ đã dạy tôi.

Nhưng

mỗi lần tôi học được điều gì, tôi đem điều đó vào thực hành. Nên khi tôi đem vào thực hành, tôi có được kết quả. Và từ kết quả đó, tôi cảm thấy, à, tôi tự xác nhận rằng điều này là thực tiễn, điều này có thể làm được, và điều này là tốt.

Vậy tất cả chúng ta đều cần lời khuyên tốt và sự giảng dạy từ người khác, nhưng chúng ta luôn phải đem lời dạy và lời khuyên đó vào thực hành và tự mình tìm ra. Chỉ tin một điều gì mà không thực hành thì rất hời hợt.

Nên khi tôi mới bắt đầu đọc bài kệ này, nó lưu lại trong tâm tôi, và tôi nghĩ về nó khá thường xuyên. Ngay cả bây giờ, mỗi ngày, gần như mỗi ngày, tôi vẫn nhớ đến điều này. "Attā hi attano nātho" — chính mình là nơi nương tựa của mình.

Nên từ khi học được điều đó, tôi tự hỏi mình câu hỏi: làm sao tôi có thể nương tựa vào chính mình? Bởi vì khi còn rất nhỏ, chúng ta nương tựa vào cha mẹ để cho chúng ta mọi thứ chúng ta cần, để dạy chúng ta. Chúng ta nương tựa vào thầy cô để dạy chúng ta và bảo chúng ta phải làm gì. Nhưng khi lớn lên, chúng ta phải tự mình tìm ra.

Nên tôi bắt đầu nghĩ, tôi phải học nhiều hơn. Tôi phải đem những gì tôi học vào thực hành.

Từ đó, tôi bắt đầu đọc càng nhiều sách hơn và tự mình suy nghĩ. Tôi đã sai rất nhiều lần, nhưng tôi cũng học được từ những sai lầm của mình. Và điều này cũng rất quan trọng. Đừng sợ sai. Không phải sai một cách cố ý. Bởi vì khi chúng ta làm điều gì một cách tự nhiên, vì chúng ta chưa có đủ hiểu biết, chúng ta có thể sai.

Nhưng nếu chúng ta sợ sai, nếu chúng ta sợ rằng mình sẽ sai, chúng ta sẽ chẳng dám thử. Vậy nên

sự sợ hãi làm chúng ta, ừm, thụ động.

Khi bạn sợ, bạn không muốn nhúc nhích gì cả vì bạn sợ mình sẽ làm sai. Vậy nên đừng sợ.

Khi bạn làm sai, người ta sẽ nói với chúng ta: "Ồ, anh làm sai rồi. Tôi đã nói mà. Sao anh không nghe tôi?" Anh không nghe tôi, giờ anh làm sai rồi. Khi người ta nói với tôi như vậy, tôi nói: "Đúng, tôi đã không nghe anh, và tôi đã làm sai. Và giờ tôi đã tìm ra rằng đây là một sai lầm. Và tôi đã học được từ sai lầm của mình."

Nên tôi chỉ nhắc nhở mình lại nhiều lần rằng: đừng lặp lại cùng một sai lầm hai lần.

Hãy học từ sai lầm của mình. Và đó là một cách học rất tốt. Nhưng trước khi làm điều gì, tôi suy nghĩ rất cẩn thận. Tôi cố tìm hiểu tất cả những chi tiết mà tôi có thể có được, và rất thận trọng đem điều đó vào thực hành. Vì vậy, khi tôi làm sai, trước khi sai lầm trở nên quá lớn, tôi hay biết rằng mình đã sai.

Nên tôi sửa mình ngay lập tức.

Bằng cách đó, tôi đã học được một cách khó khăn rằng nhiều điều Đức Phật nói

là thật.

Nên tôi khuyến khích, đặc biệt là những người trẻ, hãy học, học nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, và tự mình tìm ra.

Và tôi tin rằng phần lớn các bạn ở đây cũng đang học và đang thực hành. Nên các bạn có thể có nhiều câu hỏi. Đừng ngần ngại hỏi tôi. Hãy viết ra một tờ giấy và đưa cho tôi. Giờ tôi sẽ nói cho các bạn ý nghĩa của hai dòng, hai dòng cuối nữa.

"Attanā hi sudantena, nāthaṃ labhati dullabhaṃ." Bằng cách tự kỷ luật hay tự huấn luyện mình cho tốt, người ta có thể đạt được nơi nương tựa ấy, điều rất khó đạt được. Nên khi còn trẻ, tôi đã không hiểu điều đó nghĩa là gì.

"Attanā hi sudantena." Bằng cách tự huấn luyện mình cho tốt, hay tự kỷ luật mình cho tốt, điều đó nghĩa là gì? Làm thế nào để huấn luyện chính mình? Làm thế nào để kỷ luật chính mình? Bạn huấn luyện chính mình thế nào?

Nên tôi đọc thêm nhiều sách nữa và tìm ra rằng bạn có thể kỷ luật chính mình bằng cách giữ giới. Năm giới. Đó là một sự kỷ luật. Nên tôi cố hết sức không làm điều gì gây ra, điều gì sẽ gây hại cho người khác. Nên khi còn rất trẻ, tôi rất hay nghi ngờ.

Và tôi không tin vào điều gì cả. Nhưng tôi tin vào một vài điều, một vài nguyên tắc, một vài giá trị.

À, tôi không tin rằng gây hại cho bất kỳ chúng sinh nào có thể mang lại lợi ích cho tôi.

Bằng cách gây rắc rối, bằng cách gây hại cho một chúng sinh khác, tôi sẽ không có được kết quả tốt nào. Đó là điều tôi tin. Nên tôi cố hết sức không gây hại cho các chúng sinh khác. Và một điều nữa, nói thì khó, mà thực hành cũng rất khó, là sự chân thật.

Chân thật có nhiều nghĩa. Nó có nghĩa rất rộng. Và với tôi, ý nghĩa quan trọng nhất của sự chân thật là không giả vờ rằng mình biết điều gì mà thật ra mình không biết.

Không giả vờ. Không giả vờ rằng mình tin vào điều gì mà thật ra mình không tin.

Và vì vậy, tôi đã gặp rắc rối nhiều lần.

Kể cho quý vị một vài chi tiết trong đời tôi: khi chúng tôi phải điền đơn xin vào đại học, quý vị phải ghi

mình theo tôn giáo nào.

Tôi ghi: "Chưa có tôn giáo."

Tôi có thể ghi bất cứ điều gì, chẳng ai kiểm tra tôi, chẳng ai hỏi tôi. Nhưng tôi ghi: "Chưa có tôn giáo." Mỗi năm tôi đều ghi như vậy. "Chưa có tôn giáo, chưa có tôn giáo." Tôi vẫn còn đang tìm hiểu. Tôi chưa chắc. Tôi chưa thể nói được. Bởi vì nói rằng mình theo một giáo pháp là điều rất nghiêm túc.

Quý vị không thể nói điều đó mà không thật sự có ý như vậy.

Thế nên tôi học giáo pháp của Đức Phật, tôi thực hành giáo pháp của Đức Phật

nhiều, rất nhiều năm, cho đến khi tôi

25 tuổi. Rồi một ngày kia, khi đang hành thiền,

tôi cảm nhận được sự an lạc và niềm hoan hỷ lớn lao.

Tâm tôi trở nên rất tĩnh lặng. Rồi tôi cảm thấy thật biết ơn Đức Phật. Và một cách tự nhiên,

nó thoát ra từ miệng tôi. Tôi tụng: "Buddham saranam gacchami, dhammam saranam gacchami, sangham saranam gacchami." Nó đến từ trái tim tôi. Tôi cảm thấy lòng biết ơn sâu xa đối với Đức Phật, đối với giáo pháp của Ngài. Vậy nên khi tôi hành thiền, tôi mới hiểu ra rèn luyện chính mình và tự chế ngự mình nghĩa là gì.

Bởi vì giữ năm giới, quý vị chỉ chế ngự hành vi của thân và hành vi của lời nói. Nhưng bằng cách hành thiền, quý vị cũng chế ngự cả tâm mình. Bởi vì khi hành thiền, quý vị trở nên tỉnh giác hơn, chánh niệm hơn. Chánh niệm hơn về mọi thứ, tỉnh giác hơn về mọi thứ.

Hành vi của thân, hành vi của lời nói, và cả hành vi của tâm. Vậy nên tôi quan tâm nhiều hơn đến tâm. Tôi rất quan tâm đến tâm lý học. Cho nên khi đọc giáo pháp của Đức Phật, tôi chú trọng hơn vào những lời dạy của Ngài về tâm.

Và khi hành thiền, tôi càng quan tâm hơn đến việc hay biết những suy nghĩ.

Càng thực hành nhiều, tôi càng thấy rằng tâm này rất hoang dã. Nó như một con ngựa hoang.

Nó chạy đây chạy đó suốt. Rất khó thuần. Nhưng chỉ bằng cách quan sát tâm, chỉ bằng cách quan sát mọi suy nghĩ đi qua trong tâm, dần dần tôi nhận ra rằng

khi tôi càng chánh niệm hơn, thì những suy nghĩ của tôi càng có trật tự hơn. Vậy nên chánh niệm hay sự tỉnh giác này, nó huấn luyện cho tâm trở nên có trật tự hơn. Khi tâm không được rèn luyện, nó hỗn loạn hơn, nhảy từ chuyện này sang chuyện khác.

Phần lớn những gì chúng ta suy nghĩ thật ra không hữu ích, không thật sự có lợi.

Vậy nên khi tôi chú ý nhiều hơn đến những gì mình suy nghĩ, dần dần tôi nhận ra rằng phần lớn những gì tôi nghĩ đều không thật sự hữu ích.

Và chỉ bằng cách thấy được bản chất của suy nghĩ, nó chậm lại và ngày càng ít những suy nghĩ không cần thiết hay vô ích khởi lên. Vậy nên tâm trở nên có trật tự hơn, có hệ thống hơn. Ngay cả khi suy nghĩ, tôi nhận ra rằng khi mình chánh niệm hơn, mình suy nghĩ có hệ thống hơn.

Ngay cả suy nghĩ cũng trở nên có hệ thống hơn. Nó có một hướng đi. Nó đi từng bước tiến về phía trước, để đến được kết luận đúng đắn.

Vậy nên sau khi hành thiền, tôi mới học được ý nghĩa sâu xa hơn trong lời khuyên của Đức Phật. Bằng cách rèn luyện chính mình cho tốt, bằng cách chế ngự chính mình cho tốt, người ta có thể đạt được nơi nương tựa đó, điều rất khó đạt được. Vậy nên chỉ bằng cách hành thiền, chúng ta mới có thể chế ngự chính mình.

Chúng ta có thể rèn luyện chính mình. Vậy nên thiền là một sự rèn luyện. Thiền là một sự chế ngự. Đó là sự chế ngự tâm, sự rèn luyện tâm. Vậy nên khi chúng ta rèn luyện tâm mình, khi chúng ta chế ngự tâm mình, nó trở nên có trật tự hơn, và trở nên hữu hiệu hơn, sáng tạo hơn. Và khi tâm trở nên tĩnh lặng hơn và có trật tự hơn, nó có thể thấy mọi thứ rõ ràng hơn.

Nó có thể thấy được sự thật, thực tại về thân và tâm của chúng ta. Vậy nên sự thật và thực tại mà chúng ta cần biết nằm ngay trong thân và tâm này. Nó không ở đâu khác. Nó không ở ngoài kia. Vậy nên giáo pháp của Đức Phật nhấn mạnh việc tìm ra sự thật về thân và tâm của chính mình, mà ta cũng có thể gọi là thế giới.

Vậy nên trong giáo pháp của Đức Phật, ở nhiều chỗ, khi Đức Phật dùng chữ "thế giới" hay "loka" trong tiếng Pali, nó có nghĩa là thân và tâm.

Vậy nên bằng cách hiểu thân và tâm này, và hiểu thân với tâm phối hợp với nhau thế nào, tâm ảnh hưởng đến thân thế nào, suy nghĩ ảnh hưởng đến thân thế nào, và cả những gì ta thấy, ta nghe, ta ngửi, ta nếm, ta cảm nhận ảnh hưởng đến trạng thái tâm của ta thế nào, chúng ta thấy được bản chất của thân và tâm rất sâu sắc.

Thường thì chúng ta thích nghĩ rằng mình tự do. Phần lớn quý vị muốn tin rằng mình tự do. Và tôi cũng thích nghĩ rằng tôi tự do.

Và vì tôi rất thích tự do, nên từ khi còn rất nhỏ, tôi đã trở nên phản kháng hơn. Vì tôi nghĩ rằng không vâng lời ai đó nghĩa là mình đang thể hiện sự tự do của mình. Làm người phản kháng nghĩa là tự do — điều đó sai. Bởi vì bằng cách phản kháng, quý vị không thể thật sự tự do. Bởi vì quý vị đang phản ứng. Phản ứng không phải là tự do.

Tự do không phải là phản ứng.

Chỉ sau khi hành thiền, và đặc biệt là sau khi thực hành hay biết các suy nghĩ,

tôi mới thấy rằng dù tôi muốn nghĩ hay tin rằng tôi tự do, tôi thấy ra rằng tôi không tự do. Bởi vì tham, hay sân, hay ngã mạn, hay đố kỵ, hay ganh ghét đã thúc đẩy phần lớn các hành động của tôi. Tôi bị chi phối nhiều hơn bởi tham, hay đố kỵ, hay ganh ghét, hay thù hận, hay sân.

Vậy nên

càng thấy sân, hay tham, hay đố kỵ, hay ganh ghét chi phối hành vi của mình thế nào, tôi càng cảm thấy rằng tôi không tự do.

Nhưng càng thấy rằng tôi không tự do,

điều đó lại càng thúc đẩy tôi trở nên tự do. Và điều đầu tiên tôi nhận ra là khi tôi biết rằng mình không tự do, đó chính là một dạng tự do.

Khi quý vị biết rằng mình không tự do, đó là một dạng tự do.

Quý vị hiểu điều đó không? Vâng. Bởi vì khi quý vị không biết rằng mình không tự do, quý vị không có hy vọng trở nên tự do. Vậy nên bước đầu tiên để đạt được tự do là hay biết, là biết rằng mình không tự do.

Vậy nên khi tôi thấy rằng tâm mình bị chi phối bởi nhiều thứ — nhiều điều tôi thấy, nhiều điều tôi nghe, nhiều điều người khác nói — khi ai đó nói gì với tôi và tôi nổi sân, tôi thấy: ồ, tôi đang sân. Và ai làm tôi sân? Một người khác. Nên tôi nghĩ, nếu một người khác có thể làm tôi sân, thì tôi có tự do không?

Câu trả lời của tôi là không. Nếu ai đó có thể ảnh hưởng đến tâm tôi mạnh như vậy và tức thời như vậy, thì làm sao tôi có thể nói rằng tôi tự do? Và khi tôi thấy một cái gì đó, tôi trở nên, tôi cảm thấy tham. Tôi muốn cái đó, tôi muốn cái đó. Khi tôi quan sát tâm mình, tâm tôi cứ nghĩ về cái tôi muốn.

Và khi tôi cần học một điều gì đó, tôi không thể tập trung tâm vào cái tôi muốn học. Tâm tôi quay trở lại nghĩ về cái tôi muốn. Và ham muốn đó, ham muốn càng mạnh thì tôi càng nghĩ về nó nhiều. Nên tôi cũng trở nên hay biết trạng thái tâm ấy. Ồ, tôi muốn cái đó, tôi muốn cái đó. Tôi cứ nghĩ về cái đó.

Tôi không thể tập trung tâm vào cái tôi muốn học.

Rồi tôi biết rằng, ồ, tâm tôi không tự do. Ham muốn ấy giống như một cái bẫy. Nó giống như một nhà tù.

Nên càng thấy rằng sân, tham, ganh tỵ, đố kỵ, ngã mạn hay bất cứ trạng thái tâm tiêu cực nào khác làm cho tâm tôi giống như một tù nhân, tôi lại càng muốn được tự do hơn nữa. Vì vậy đôi khi trong sự thực hành thiền của tôi,

tâm trở nên càng chánh niệm hơn, càng tĩnh lặng hơn, càng an bình hơn. Và nó an trú trên một đối tượng nào đó, một đối tượng đơn giản đang xảy ra trong thân, như hơi thở. Hoặc cũng trong các trạng thái tâm của tôi. Nên tâm trở nên tĩnh lặng hơn và an bình hơn. Và khi nó thật sự tĩnh lặng và an bình, tôi nhận thấy rằng vào lúc đó, không có tham hay ham muốn nào cả.

Tôi không nghĩ về cái tôi muốn. Không có sân hay hận. Tôi không nghĩ về cái tôi không thích, cái tôi ghét. Nên không có so sánh. Nên không có ngã mạn hay tự cao. Vì vậy chữ "mana" trong tiếng Pāli, được dịch sang tiếng Anh là pride (ngã mạn) hay conceit (tự cao), thật ra không chính xác lắm.

Chữ "mana" trong tiếng Pāli theo nghĩa sát nghĩa là so sánh, đo lường. Bởi vì "mana", chữ "mana" trong tiếng Pāli đến từ gốc "mi". Gốc của chữ "mana" là "mi". "Mi" nghĩa là đo, là so sánh. Nên bất cứ khi nào bạn so sánh mình với một người khác và nghĩ rằng, ừ, tôi thấp kém hơn người đó, đó cũng là "mana".

Nhưng trong tiếng Anh, bạn sẽ không gọi đó là pride (ngã mạn). Bởi vì bạn nghĩ mình thấp kém hơn. Bởi vì chữ "pride" nghĩa là bạn nghĩ mình cao hơn người khác. Nên khi tôi thật sự tìm ra ý nghĩa của chữ "mana", nó cũng mở mang tâm tôi rất nhiều. Bất cứ cách nào mà bạn so sánh mình với người khác, đó là "mana".

Và bất cứ loại so sánh nào cũng sẽ không làm bạn hạnh phúc, cũng sẽ không làm bạn tự do. Bởi vì khi bạn nghĩ rằng, ồ, tôi thấp kém hơn người đó, bạn cảm thấy không vui. Và sự không vui đó không phải là tự do. Còn khi bạn nghĩ rằng tôi cao hơn người đó, và bạn nghĩ bạn cảm thấy hạnh phúc, nhưng ngay cả hạnh phúc đó cũng không phải là tự do.

Nó là một cái bẫy. Nó là một nhà tù. Nên khi tôi thấy những trạng thái tâm này sanh khởi trong tâm tôi ngay khi chúng đang sanh khởi, không phải nghĩ về chúng, mà tôi thật sự đang quan sát trạng thái tâm đó khi nó đang có mặt. Tôi thấy rằng khi có ngã mạn, khi có bất cứ loại so sánh nào, thì không có tự do.

Vậy nên thỉnh thoảng trong sự thực hành thiền của tôi, tâm trở nên rất tĩnh lặng, an bình và thanh tịnh. Không tham, không sân, không hận, không ngã mạn, không so sánh, không ganh tỵ, không đố kỵ, không buồn ngủ. Một trạng thái tâm thật sự trong sáng và sáng tỏ, đầy năng lượng, nhưng rất tĩnh lặng.

Rồi tôi thấy rằng trạng thái tâm này thật tĩnh lặng và thật an bình, thật thanh tịnh, thật trong sạch, thật đáng quý.

Và tôi cũng có thể thấy rằng ở đó có sự tự do.

Và tôi nghĩ, ừ, chỉ mong sao tôi có thể sống như thế này mãi mãi. Tôi muốn trạng thái tâm ấy kéo dài mãi mãi. Rồi tôi nghĩ, ngay cả điều đó cũng là một loại ham muốn.

Nhưng dù sao, tôi thấy rằng khi tâm thoát khỏi tham hay bất cứ loại ham muốn nào, thoát khỏi sân, hận, bất cứ loại so sánh nào, ganh tỵ hay đố kỵ, thì lúc ấy nó tự do.

Nên tôi hiểu rằng tự do không phải là phản kháng, không phải là phản ứng. Khi bạn thật sự tự do, bạn không phản kháng. Bạn không phản ứng.

Rồi tôi hiểu ý nghĩa sâu hơn của tự do. Nên mặc dù, à, tôi không thể hoàn toàn tự do khỏi tất cả những trạng thái tâm ấy mọi lúc,

nhưng vì tâm tôi có thể tự do thỉnh thoảng, tôi hiểu được ý nghĩa sâu hơn của tự do.

Và dần dần, khi tôi thực hành thiền càng nhiều hơn, tôi cảm thấy mình càng trở nên tự do hơn. Rồi tôi hiểu rằng đây là con đường duy nhất có thể dẫn đến tự do. Đây là con đường duy nhất có thể dẫn đến sự thanh tịnh. Chỉ khi bạn có thể thấy rằng tâm không thanh tịnh, thì nó mới có thể trở nên thanh tịnh. Bởi vì quan sát, chú tâm, chánh niệm hay hay biết làm sạch tâm.

Nó giống như giặt rửa tâm mình. Nên trong lời dạy của Đức Phật, có một ví dụ. Đức Phật nói, bùn sinh ra do nước.

Nhưng khi tay bạn dính bùn, bạn rửa tay bằng nước.

Cũng vậy, phiền não sanh khởi trong tâm do suy nghĩ của bạn. Nhưng khi phiền não sanh khởi trong tâm bạn, bạn rửa nó bằng một trạng thái tâm khác, một tâm khác. Và đó là sự giặt rửa. Nên chánh niệm là sự giặt rửa.

Chúng ta rửa thân mình mỗi ngày. Chúng ta mồ hôi cả ngày và thân bị bám bụi bẩn. Nên chúng ta không thích bị bẩn. Nên chúng ta rửa thân mỗi ngày. Cũng vậy, chúng ta cũng cần rửa tâm mình. Nhưng bằng cách nào? Bằng cách chú tâm đến những gì đang xảy ra trong tâm.

Bằng cách chú tâm đến những gì chúng ta đang suy nghĩ, những gì chúng ta đang cảm nhận. Nên bằng cách chú tâm đến bất cứ loại trạng thái tâm nào, sự hay biết ấy làm thanh tịnh các trạng thái tâm. Nên ngay cả sự dính mắc vào an bình cũng không thật sự tốt.

Nhưng trong giai đoạn đầu của sự thực hành thiền, chúng ta không thể không dính mắc vào những trạng thái tâm an bình, tĩnh lặng.

Và khi chúng ta cảm thấy an bình và tĩnh lặng, chúng ta dính mắc vào trạng thái tâm đó, và chúng ta lại quan sát trạng thái tâm đó. Ồ, dính mắc vào sự tĩnh lặng, dính mắc vào sự an bình. Và bằng cách quan sát trạng thái tâm đó lặp đi lặp lại, dần dần chúng ta càng lúc càng không còn dính mắc, ngay cả với sự tĩnh lặng và an bình.

Và nếu bạn không hay biết, bạn sẽ cảm thấy rằng, ồ, tôi thật tĩnh lặng. Tôi thật an bình. Ồ, tôi có thể thấy thật rõ ràng. Tôi có thể hiểu Dhamma thật sâu sắc. Và ngay cả cái suy nghĩ tôi có thể, tôi có thể, hay tôi là, tôi là, cũng là một loại, à, bất tịnh.

Nên bằng cách quan sát lại tâm đó, chúng ta có thể làm thanh tịnh trạng thái tâm ấy. Nên bất cứ loại dính mắc nào, ngay cả dính mắc vào sự tĩnh lặng hay an bình hay thanh tịnh, cũng có thể làm bạn khổ.

Bởi vì nó không kéo dài mãi mãi. Nên trong những giai đoạn đầu của sự thực hành, chúng ta cần chú tâm đến bất cứ loại trạng thái tâm nào, dù tốt hay xấu.

Bằng cách làm như vậy, chúng ta càng lúc càng tự do hơn. Rồi tôi hiểu điều Đức Phật đã dạy. Bằng cách tự huấn luyện mình, bằng cách tự điều phục mình, người ta có thể đạt được nơi nương tựa đó, điều rất khó đạt được. Nên huấn luyện hay điều phục nghĩa là có chánh niệm, hay biết, chú tâm, thấy trực tiếp những gì đang xảy ra ngay bây giờ.

Vậy nên,

à, thiền không phải là suy nghĩ.

Sự thực hành thiền thật sự là nhìn, thấy, chú tâm.

Nên nói rất đơn giản, thiền nghĩa là chú tâm.

Nên tôi tin rằng phần lớn các bạn cũng là thiền sinh. Các bạn có thể có kinh nghiệm của mình trong việc thực hành thiền.

Nên tôi mời các bạn đặt câu hỏi cho tôi về sự thực hành thiền của các bạn.

Vậy đây là một câu hỏi.

Ừ, câu hỏi này là một câu hỏi dài. Nó được viết bằng tiếng Miến. Nên đối với những ai không hiểu tiếng Miến, tôi sẽ dịch sang tiếng Anh. Người này nói, à, lần trước khi Sayadaw đến Singapore và cho một buổi pháp thoại, Sayadaw có nói một điều rất thích hợp với con.

Sayadaw nói, khi bạn làm một lỗi, hãy tự sửa lỗi của chính mình.

Từ đó trở đi, mỗi khi tôi mắc một lỗi thật thà,

tôi nhớ lại

điều thầy đã nói.

Và khi tôi nhớ lại điều thầy nói, sự bất an vì đã mắc lỗi ấy dừng lại.

Và tôi cũng nghe lại các băng giảng Dhamma của thầy nhiều lần nữa. Và

tôi thích một điều thầy nói. Thầy nói, hôm nay tôi chọn hạnh phúc.

Điều này thật kỳ diệu, các bạn biết đó. Bạn có thật sự chọn hạnh phúc không?

Phần lớn người ta còn chẳng nghĩ tới điều đó. Ý nghĩ đầu tiên đến với bạn khi bạn thức giấc buổi sáng là gì? Bạn có để ý đến điều đó chưa? Tôi cũng có để ý đến những ý nghĩ của mình. Không chỉ buổi sáng. Có khi tôi thức giấc lúc nửa đêm. Và nếu bạn không hay biết, bạn sẽ đang nghĩ về một điều gì đó.

Và nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy rằng phần lớn những ý nghĩ của bạn không phải là những ý nghĩ hạnh phúc.

Điều đầu tiên đến với tâm bạn là gì? Điều gì làm bạn lo lắng nhiều? Điều gì làm bạn khó chịu nhiều?

Vậy nên nếu bạn không chọn hạnh phúc một cách có ý thức, thì phần lớn thời gian những ý nghĩ bất an sẽ chiếm lấy tâm bạn.

Cho nên điều quan trọng là chọn hạnh phúc một cách có ý thức. Nhắc mình rằng tôi chọn hạnh phúc. Nhưng dù bạn chọn hạnh phúc, những ý nghĩ bất an vẫn sẽ đến, vẫn sẽ hiện ra trong tâm bạn. Nhưng mỗi khi bạn nhớ ra rằng mình đang nghĩ những ý nghĩ bất an, bạn có thể quan sát ý nghĩ đó.

Vậy nếu bạn để ý ngày càng nhiều hơn, bạn sẽ thấy rằng phần lớn những ý nghĩ bất an ấy chẳng có ích gì.

Nó vô dụng. Bạn chỉ làm mình kiệt sức. Bạn chỉ thêm mệt. Bạn tiêu phí năng lượng của mình. Khi bạn nghĩ quá nhiều ý nghĩ bất an, quá nhiều ý nghĩ bất an, bạn trở nên mệt đến mức không còn năng lượng để làm việc gì tốt. Bạn không thể, bạn còn chẳng nghĩ được những ý nghĩ tốt hay ý nghĩ hạnh phúc. Vậy nên đó là một tập quán.

Đó là một tập quán xấu. Bất cứ điều gì cũng thành tập quán. Vậy đừng để mình rơi vào tập quán nghĩ những ý nghĩ bất an phần lớn thời gian. Tự nhiên là trong đời sống chúng ta có những vấn đề.

Vậy nên chúng ta cần tìm giải pháp để vượt qua các vấn đề, các khó khăn của mình. Nhưng tìm giải pháp không giống như cứ đắm mình trong một ý nghĩ bất an. Có khi chúng ta nghĩ về một điều mà mình chẳng làm gì được. Nhưng ta cứ nghĩ, nghĩ, nghĩ mãi và tự thiêu đốt mình. Những ý nghĩ bất an thật sự có thể làm thân bạn nóng lên, nhất là trong thời tiết nóng như thế này.

Nếu bạn nghĩ những ý nghĩ bất an, bạn sẽ thấy mình mồ hôi ra nhiều hơn. Thân bạn nóng lên, có nghĩa là thân bạn đang dùng nhiều năng lượng hơn. Vậy nên những ý nghĩ bất an tiêu thụ nhiều năng lượng hơn.

Những ý nghĩ hạnh phúc không tiêu thụ nhiều năng lượng như vậy.

Vậy nên so sánh giữa ý nghĩ bất an và ý nghĩ hạnh phúc, ý nghĩ bất an dùng nhiều năng lượng hơn.

Vậy nên nếu mỗi lần bạn có thể dừng những ý nghĩ bất an, bất cứ khi nào bạn nghĩ những ý nghĩ bất an và bạn để ý,

bạn càng giảm được những ý nghĩ bất an, bạn càng ít cảm thấy mệt. Nên rất nhiều thiền sinh của tôi, tạm gọi như vậy, những người thực hành hay biết ý nghĩ,

học được cách dừng những ý nghĩ không cần thiết, dừng việc nghĩ những điều không cần thiết. Vậy nên ngay khi bạn hay biết những ý nghĩ của mình, bạn có thể thấy mình đang nghĩ về điều gì. Và nếu cần thiết, bạn có thể tiếp tục nghĩ. Nhưng nếu không cần thiết, bạn có thể dừng nghĩ.

Vậy nên khi bạn học được cách không nghĩ những ý nghĩ vô ích, bất an, lo lắng, bạn sẽ thấy rằng cuối ngày bạn không mệt lắm. Và rất nhiều người nói với tôi hết lần này đến lần khác rằng bây giờ tôi hay biết những ý nghĩ của mình hơn, tôi không nghĩ những ý nghĩ không cần thiết, vô ích, lo lắng, bồn chồn nữa.

Và khi tôi không nghĩ những ý nghĩ lo lắng hay bồn chồn, tôi không cảm thấy mệt lắm vào cuối ngày. Vậy nên nếu bạn cần nhiều năng lượng hơn, và tôi tin là bạn cần nhiều năng lượng hơn. Tôi cũng cần nhiều năng lượng hơn. Vậy nếu bạn cần nhiều năng lượng hơn để làm việc tốt, bạn phải học, bạn phải tìm ra cách làm sao để giữ gìn năng lượng của mình.

Vậy nên ngày nay bạn đọc rất nhiều về việc bảo tồn. Bảo tồn cái này, bảo tồn cái kia, bảo tồn năng lượng. Nên bây giờ ngay cả bạn cũng có những bóng đèn dùng ít năng lượng hơn. Bởi vì,

các nhà khoa học biết rằng khi bạn thắp một bóng đèn, 90% năng lượng biến thành nhiệt, chứ không thành ánh sáng. Chỉ khoảng 10% năng lượng trở thành ánh sáng. 90% năng lượng trở thành nhiệt. Mà bạn không muốn nhiệt khi bạn bật đèn.

Bạn chỉ cần, bạn chỉ muốn ánh sáng. Vậy cũng như vậy, nếu bạn muốn,

không, nếu bạn không muốn tiêu phí năng lượng, bạn cần tìm cách giữ gìn năng lượng. Bởi vì đặc biệt trong thân này, chúng ta có một lượng năng lượng có hạn. Dù bạn có nhiều năng lượng đến đâu, bạn vẫn có một lượng năng lượng có hạn, một lượng thời gian có hạn. Vậy nên nếu bạn muốn làm được nhiều việc hơn, bạn cần tìm cách giữ gìn năng lượng của mình.

Và,

một điều tiêu phí phần lớn năng lượng của chúng ta là những ý nghĩ bất an, những ý nghĩ sân hận, những ý nghĩ lo lắng, bồn chồn. Cái đó tiêu phí rất nhiều năng lượng. Vậy nên dù bạn ăn bao nhiêu, nếu bạn nghĩ những ý nghĩ lo lắng, bạn sẽ không cảm thấy có năng lượng. Bạn không có, bạn sẽ không có năng lượng.

Nếu bạn có thể để ý đến điều mình nghĩ và giảm bớt suy nghĩ không cần thiết, lo lắng không cần thiết, bạn sẽ có nhiều năng lượng hơn để làm việc có kết quả. Bạn sẽ trở nên sáng tạo hơn. Bạn sẽ cảm thấy an bình hơn. Bạn sẽ còn cảm thấy tự tin hơn nữa. Bởi vì nếu bạn cứ nghĩ về điều làm bạn lo lắng,

bạn sẽ ít tự tin vào chính mình hơn. Vậy nên chỉ bằng cách lo lắng, bạn sẽ không trở nên tự tin. Điều này rất quan trọng để hiểu. Vì sao người ta lo lắng? Phần lớn người ta lo lắng vì họ nghĩ rằng nếu họ lo lắng nhiều hơn nữa, họ sẽ tìm ra cách vượt qua sự lo lắng, vượt qua điều họ đang lo lắng về nó.

Nhưng điều đó không đúng. Đó là một sai lầm lớn. Vậy nên cứ lo lắng mãi, bạn không thể vượt qua sự lo lắng.

Bằng cách giữ được sự bình thản, bằng cách giữ tâm mình tĩnh lặng và an bình, bạn có thể

tìm được cách tốt hơn để giải quyết những vấn đề trong đời mình. Vậy nên khi bạn trở nên tĩnh lặng hơn và an bình hơn, khi bạn có nhiều năng lượng tâm hơn, bạn sáng tạo hơn. Vậy nên để trở nên sáng tạo hơn, bạn cần học cách huấn luyện tâm mình trở nên chánh niệm hơn, có định hơn, và do đó tĩnh lặng và an bình hơn.

Vậy nên một cái tâm tĩnh lặng và an bình có nhiều năng lượng hơn và nó sáng tạo hơn. Nên chúng ta cần, chúng ta cần có nhiều năng lượng hơn và chúng ta cần sáng tạo hơn. Chúng ta cần tự tin hơn. Vậy nên bằng cách thực hành chánh niệm, chúng ta có thể phát triển tất cả những phẩm chất này: sự tự tin, năng lượng, sự sáng tạo.

Vậy nên với sự tự tin, với sự tự tin và năng lượng, và cũng với sự sáng tạo, chúng ta có thể tìm được những cách mới, những cách tốt hơn để thấy, để hiểu

điều chúng ta cần làm, để thấy và hiểu những vấn đề của mình và cũng để giải quyết những vấn đề ấy. Vậy nên thiền

có thể giúp chúng ta hiểu ngay cả

những vấn đề thường ngày, những vấn đề trong đời sống hằng ngày. Bởi vì khi bạn tĩnh lặng và an bình hơn, bạn không phản ứng. Bạn không làm gì một cách tự động.

Vậy nên mỗi khi có vấn đề, bạn có thể chú ý nhiều hơn và tìm ra một cách rất đơn giản để vượt qua vấn đề đó. Nếu bạn phản ứng, bạn làm mọi thứ phức tạp hơn. Bạn tiêu tốn năng lượng của mình. Vì vậy, chúng ta cần học

một cách để phần lớn thời gian được an lạc và hạnh phúc. Đức Phật chưa bao giờ khuyến khích ai đó bất hạnh.

Đức Phật khuyến khích tất cả các đệ tử của Ngài học cách cảm nhận niềm vui và hạnh phúc. Vậy một phẩm chất của tâm mà chúng ta có thể phát triển trong việc thực hành thiền được gọi là pīti.

Trong tiếng Pāli, nó được gọi là pīti. Và khi dịch sang tiếng Anh, người ta dịch là sự hăng say, niềm vui.

Vậy hãy trở nên nhiệt tâm hơn, để nhiệt tâm hơn, để cảm thấy hoan hỷ. Nhưng không chỉ vậy. Từ pīti còn có một nghĩa khác, nghĩa là sự thích thú, sự quan tâm.

Vậy khi tâm bạn trở nên tĩnh lặng và an lạc, bạn có sự hăng say, nhiệt tâm, niềm vui và sự thích thú. Để làm tốt bất cứ việc gì, bạn cần trạng thái tâm đó, có sự thích thú, hạnh phúc với việc mình đang làm, cảm nhận niềm vui. Vậy nên bất hạnh thì rất kém hiệu quả.

Vậy để có hiệu quả hơn, chúng ta cần học một cách để cảm nhận niềm vui, hạnh phúc, sự thích thú, để cảm thấy nhiệt tâm, để trở nên nhiệt tâm hơn.

Vậy một cách có ý thức, chúng ta phải tự nhắc mình lần nữa rằng tôi chọn hạnh phúc. Phần lớn mọi người

không biết rằng họ đang chọn sự bất hạnh. Họ thậm chí không chấp nhận rằng họ đang chọn sự bất hạnh. Nhưng tôi thấy rằng một số người, ít nhất là những người tôi biết, chọn sự bất hạnh. Mỗi khi họ bắt đầu nói điều gì,

họ sẽ bắt đầu, cái gì đã sai? Họ chưa bao giờ nói về cái gì đã đúng. Tôi biết một số người như vậy. Ngay khi họ mở miệng, họ sẽ nói về một điều gì sai. Điều gì sai về chính họ hoặc điều gì sai về người khác.

Vậy họ đang làm chính mình bất hạnh và họ cũng đi khắp nơi lan truyền sự bất hạnh, điều đó thật sự không tốt, không công bằng.

Vậy khi bạn có chánh niệm hơn, bạn thật sự có thể chọn. Bởi vì khi bạn không có chánh niệm, bạn không có chọn lựa. Bạn chỉ phản ứng. Chỉ khi bạn có chánh niệm, bạn mới có chọn lựa.

Điều này rất quan trọng để hiểu. Không có chánh niệm, không có sự tỉnh giác, thì không có chọn lựa. Bạn chỉ phản ứng. Vậy phản ứng không phải là sự tự do.

Vậy nếu bạn muốn tự do, đừng phản ứng. Hãy có chánh niệm và chọn lựa. Vậy khi bạn có chánh niệm hơn, thì bạn có chọn lựa, thì bạn có tự do. Vậy chúng ta muốn có chọn lựa. Chúng ta muốn tự do. Vậy bạn có thể chọn suy nghĩ của mình không? Nếu bạn không thể chọn suy nghĩ của mình, bạn có tự do không?

Không. Vậy khi chúng ta nói về tự do, chúng ta cần đi rất sâu để tìm ra tự do thật sự nghĩa là gì.

Vậy khi bạn có chánh niệm hơn, thì bạn có thể thấy điều gì đang thật sự xảy ra. Rồi bạn có chọn lựa và có tự do.

Và người này ở đây nói,

à, nói ngắn gọn, tôi muốn một cái tâm mềm mại, một cái tâm trong sáng, một cái tâm tự do, một cái tâm mát mẻ, và một cái tâm biết đủ.

Dù tôi muốn trạng thái tâm như vậy mọi lúc, nhưng phần lớn tâm tôi lại không mềm mại,

điều đó là đúng. Nhưng đây chính là nơi chúng ta khởi đầu. Đây chính là nơi chúng ta bắt đầu thực hành. Trước tiên, bạn biết rằng tâm bạn không mềm mại. Nó rất hung hăng. Nó đang sân, đang bực tức.

Vì vậy, khi tôi khuyến khích mọi người, các bạn và các thiền sinh của tôi, chú ý đến điều họ đang suy nghĩ, điều đầu tiên họ trình pháp với tôi là

tự biết mình chẳng phải là tin vui, họ nói vậy. Khi tôi nhìn vào tâm mình và chú ý đến điều tôi đang suy nghĩ, phần lớn điều tôi thấy không tốt. Không sao cả.

Trước hết, chúng ta cần thấy điều đó. Theo thói quen, chúng ta suy nghĩ những suy nghĩ tiêu cực. Nhưng chỉ khi chúng ta ý thức được những suy nghĩ tiêu cực của mình, thì dần dần chúng ta mới có thể vượt qua những tiêu cực đó, những suy nghĩ tiêu cực đó.

Và một câu hỏi khác là

dính mắc. Trước khi tôi có thể vượt qua dính mắc bằng cách phát triển tuệ giác, và dính mắc ở đây nghĩa là dính mắc vào thiền sư, dính mắc vào cái ta, làm thế nào, tôi có thể đặt tâm mình ở đâu? Rất đơn giản.

Câu trả lời rất đơn giản. Bạn biết rằng bạn đang dính mắc vào điều gì hay người nào, thiền sư của bạn hay nhóm của bạn, hội của bạn, niềm tin của bạn. Vậy khi bạn thấy rằng đây là dính mắc và thấy rằng bất cứ loại dính mắc nào cũng không cho bạn tự do, điều đó sẽ dẫn bạn đến tự do và không dính mắc.

Vậy chú ý đến sự dính mắc chính là cách để vượt qua dính mắc.

Nhưng có, có nhiều cách khác mà bạn có thể dùng để vượt qua, à, những dính mắc thô. Bởi vì dính mắc có nhiều mức độ, nhiều tầng lớp.

Vậy khi bạn biết điều đó, khi bạn dính mắc vào thiền sư của mình, điều gì xảy ra?

Bạn sẽ nghĩ rằng điều thiền sư của tôi nói là đúng, và bất cứ điều gì người khác nói mà không đồng ý với điều thiền sư tôi nói thì là không đúng.

Vậy bạn bị thiên vị. Bạn không biết, bạn thậm chí không tìm hiểu xem điều người khác nói là đúng hay không. Nhưng vì bạn dính mắc vào thiền sư của mình, bạn muốn tin rằng chỉ điều thiền sư tôi nói mới đúng. Bất cứ điều gì không đồng ý với thiền sư tôi thì không đúng, điều mà Đức Phật đã cảnh báo chúng ta.

Đừng tin điều gì chỉ vì thiền sư của bạn nói như vậy.

Bạn có đọc điều đó trong bài kinh nào chưa? Bạn có biết bài kinh nào không?

Kinh Kālāma. Đúng rồi, Kinh Kālāma. Đức Phật đã nói vậy. Đừng tin điều gì chỉ vì thiền sư của bạn nói như vậy. Đừng tin điều gì chỉ vì nó có trong Tam Tạng hay trong bất cứ sách vở nào.

Đừng tin điều gì chỉ vì nó hợp lý. Đừng tin điều gì chỉ vì nó phù hợp với suy nghĩ của chính bạn. Vậy có rất, rất nhiều điểm trong bài kinh đó, Đức Phật nói. Và

cuối cùng Đức Phật nói, đừng tin điều gì chỉ vì đó là Đức Phật nói điều ấy.

Vậy Đức Phật không khuyến khích bất cứ loại niềm tin mù quáng nào, bất cứ loại dính mắc nào.

Vậy Đức Phật khuyến khích sự tự do hoàn toàn để tự mình tìm hiểu. Hãy thực hành và tự tìm ra. Vậy bạn biết rằng dính mắc làm bạn thiên vị. Vậy khi bạn thiên vị, bạn không công bằng. Khi bạn thiên vị, bạn không có tâm mở rộng.

Vậy khi bạn biết rằng bất cứ loại dính mắc nào cũng làm bạn không tự do, không công bằng, bất cứ loại dính mắc nào cũng làm bạn thiên vị,

và khi bạn thấy rằng bạn đang dính mắc, bạn không khuyến khích chính mình dính mắc thêm nữa.

Vậy hãy rửa sạch dính mắc của mình ngày càng nhiều hơn, rồi quý vị sẽ thấy rằng dính mắc làm cho mình mệt mỏi. Và quý vị không muốn bị mệt mỏi.

Vậy đó là câu hỏi trong phần này. Còn vài câu hỏi nữa ở đây.

À, nhiều câu hỏi quá. Thật tuyệt vời.

Những câu hỏi rất thú vị.

Đây là một câu rất hay. Cái giá của tự do là gì?

Có phải là trách nhiệm không? Chúng ta phải nhớ khi dùng từ "cái giá".

Bởi vì mỗi khi dùng từ "cái giá", chúng ta nghĩ đến việc đi mua một món gì đó. Và chúng ta rất miễn cưỡng khi phải trả tiền. Chúng ta muốn nói, muốn mặc cả. Này, có bớt giá được không?

Vậy khi chúng ta dùng từ "cái giá" ở đây, cái giá của tự do là gì? Có lẽ chúng ta đang nghĩ rằng để có được tự do, chúng ta phải từ bỏ một thứ gì đó quý giá.

Có phải đó là ý nghĩ trong tâm quý vị không?

Mỗi khi dùng từ "cái giá", chúng ta nghĩ rằng để được một thứ gì đó, chúng ta phải mất một thứ gì đó.

Vậy quý vị có mất gì không khi trở nên tự do? Cái mà quý vị mất khi trở nên tự do là gì?

Và ở đây, có phải là trách nhiệm không? Vậy chúng ta muốn nghĩ rằng để có tự do,

chúng ta phải có trách nhiệm. Đó là cái giá chúng ta trả. Vậy quý vị có miễn cưỡng khi phải có trách nhiệm không?

Cho nên ngôn từ rất quan trọng. Chúng ta cần dùng ngôn từ, nhưng cần phải rất rõ ràng về điều mình muốn nói, ý mình muốn diễn đạt qua từ đó.

Dĩ nhiên,

theo nghĩa thế gian,

trách nhiệm và tự do đi đôi với nhau. Một người không có trách nhiệm thì không xứng đáng có tự do. Ví dụ,

cho quý vị một ví dụ rất đơn giản, khi quý vị lái xe trên đường, quý vị phải là một người lái xe có trách nhiệm. Bởi vì nếu quý vị phạm sai lầm, không chỉ quý vị làm hại chính mình, mà còn làm hại người khác nữa. Quý vị thậm chí có thể giết một người khác. Quý vị thậm chí có thể tự giết mình. Vậy nên quý vị phải rất có trách nhiệm. Khi đèn giao thông chuyển sang màu đỏ, quý vị phải dừng lại.

Quý vị không có lựa chọn nào khác. Đó là trách nhiệm của quý vị. Rất nghiêm ngặt.

Vậy quý vị được tự do

trong khuôn khổ quy tắc hay luật lệ. Quý vị phải giữ luật giao thông thì mới có tự do lái xe trên đường. Nếu quý vị không giữ được luật giao thông, quý vị không được tự do lái xe trên đường. Vậy giữ luật giao thông chính là có trách nhiệm.

Cho nên một người không thể có trách nhiệm thì không thể được tin tưởng để cấp bằng lái xe chạy trên đường.

Vậy trách nhiệm và tự do đi đôi với nhau theo nghĩa thế gian. Và trong việc hành thiền,

trách nhiệm ở đây có nghĩa là chú tâm. Khi quý vị chú tâm, thì quý vị có trách nhiệm. Quý vị có sân. Quý vị đang giận. Quý vị muốn đánh. Quý vị muốn nói điều gì đó làm tổn thương người khác. Nhưng quý vị biết rằng, à, đang giận, đang giận. Vậy khi quý vị chú tâm đến sự thật là mình đang giận, thì quý vị có trách nhiệm.

Vậy khi có trách nhiệm, quý vị không đi đánh người. Quý vị không nói điều gì làm tổn thương người khác. Quý vị muốn chờ một lát. Quý vị muốn nguội xuống và lắng dịu lại. Và khi quý vị nguội xuống và lắng dịu lại,

thì quý vị nghĩ ra cách tốt hơn để giải quyết vấn đề. Và luôn luôn khi quý vị bình tĩnh hơn, khi quý vị nguội xuống, quý vị tìm ra cách tốt hơn. Vậy nên quý vị không đi đánh người khác. Quý vị không nói điều gì làm tổn thương người khác. Mà quý vị đi thương lượng với người đó.

Quý vị hỏi vài điều để làm rõ anh ấy hay cô ấy đã làm gì. Và quý vị sẽ nói cho người đó biết quý vị muốn gì, quý vị mong đợi gì. Dù sao, ý tôi muốn nói là quý vị sẽ tìm ra cách tốt hơn để giải quyết vấn đề. Và nhiều người đã nói với tôi rằng khi họ biết được mình đang giận, và nhờ sự hay biết đó, họ không phản ứng và dừng lại.

Họ dừng lại và dành thời gian để chánh niệm hơn và lắng dịu xuống. Và nhờ vậy, họ tìm được cách tốt hơn để xử lý vấn đề, và họ đưa ra được giải pháp tốt hơn. Và khi họ giải quyết được vấn đề hay xung đột

với sự hay biết và trí tuệ và

đạt được kết quả tốt, họ cảm thấy rất hạnh phúc. Nhiều người đã nói với tôi rằng, tôi rất vui vì tôi đã không phản ứng ngay lập tức khi tôi bực mình. Bởi vì nếu tôi phản ứng, nếu tôi đã phản ứng, tôi sẽ còn làm cho vấn đề tệ hơn nữa.

Vậy nên

chánh niệm và không phản ứng có nghĩa là quý vị đang có trách nhiệm. Đó là cái giá quý vị trả. Nhưng quý vị không mất gì cả. Quý vị được thêm.

Vậy nên

tự do có nghĩa là có chánh niệm. Bởi vì không có chánh niệm, chúng ta không có tự do. Và có chánh niệm nghĩa là có trách nhiệm. Đôi khi quý vị không thể dừng cơn giận của mình. Quý vị cứ nổi giận hoài. Quý vị cứ nghĩ về chuyện gì đã sai, và quý vị cảm thấy, vẫn cảm thấy giận, nhưng quý vị không phản ứng.

Quý vị không nói gì cả. Quý vị không làm gì cả.

Quý vị rửa sạch cơn giận của mình lần này đến lần khác cho đến khi nó ngày càng ít đi và nguội xuống. Và đôi khi, mặc dù nó không biến mất hoàn toàn,

bởi vì quý vị hay biết, nên quý vị không phản ứng. Và quý vị đi giải quyết với người đó

và nói chuyện, làm rõ, thương lượng, và tìm ra giải pháp tốt hơn. Mặc dù quý vị vẫn cảm thấy giận, quý vị vẫn có kết quả tốt hơn.

Vậy cơn giận có thể đi mất hoặc có thể không đi mất, nhưng chỉ vì quý vị có chánh niệm và chỉ vì quý vị không phản ứng, quý vị đang có trách nhiệm.

Vậy bằng cách làm như vậy, bằng cách thực hành như vậy, dần dần quý vị trở nên trưởng thành hơn về mặt cảm xúc. Sân là một cảm xúc. Bất cứ gì, bất cứ điều gì. Hạnh phúc cũng là cảm xúc. Vậy khi chúng ta hay biết cảm xúc của mình nhiều hơn, chúng ta trở nên quân bình hơn. Chúng ta trở nên trưởng thành hơn.

Vậy tôi không có ý nói rằng bạn không bao giờ được tức giận. Rằng bạn không bao giờ được cảm thấy vui. Những cảm xúc này là tự nhiên, và trong một số trường hợp,

chúng cần thiết cho sự sống còn của chúng ta. Bởi vì khi chúng ta dùng từ 'tức giận', nghĩa của từ tức giận rất hạn hẹp. Nhưng từ Pāli là dosa. Dosa cũng có nghĩa là sợ hãi. Và thậm chí trầm cảm cũng là dosa.

Vậy từ dosa có một phạm vi nghĩa rất rộng.

Bất cứ loại tức giận, bực bội, thù hận, hay bất cứ loại sợ hãi, lo lắng, bất an nào cũng là dosa.

Vậy nên khi chúng ta rửa sạch những trạng thái tâm này, chúng ta trở nên chín chắn hơn. Chúng ta trở nên trí tuệ hơn. Và khi chúng ta biết được trạng thái tâm đó, trạng thái tâm đó không thể lấn át tâm mình. Vậy bất cứ điều gì bạn có thể quan sát một cách khách quan thì không thể điều khiển bạn.

Ví dụ, làm sao vượt qua trầm cảm, làm sao vượt qua bất an hay lo lắng. Nếu bạn thật sự có thể chú ý đến trạng thái tâm đó, bạn đã tách mình ra khỏi nó rồi.

Vậy bằng cách chú ý, bạn tách mình ra. Nghĩa là bạn không để trạng thái tâm đó điều khiển tâm mình.

Vậy bước đầu tiên để vượt qua bất cứ trạng thái tâm tiêu cực nào là chú ý.

Bằng cách chú ý, bạn thấy nó một cách khách quan.

Nếu bạn không thấy sự việc một cách khách quan, thói quen của bạn sẽ phóng đại vấn đề. Nhưng khi bạn thấy vấn đề một cách khách quan,

bạn có thể tìm ra cách tốt hơn để giải quyết vấn đề, và bạn có thể thấy rằng vấn đề không lớn đến thế.

Điều quan trọng với bạn thật ra không quan trọng đến thế. Tôi tìm được một cuốn sách, và trong cuốn sách đó, tôi đọc được vài câu, và tác giả

trích lời một tác giả khác. Câu đó nói: "Đừng lo lắng về những chuyện nhỏ." Đó là câu thứ nhất. Và câu thứ hai là: "Đừng lo lắng về những vấn đề nhỏ." Và câu thứ hai là: "Mọi vấn đề đều là vấn đề nhỏ."

Vậy đừng lo lắng về bất cứ vấn đề nào.

Vậy khi bạn không có chánh niệm, vấn đề trông rất lớn. Nhưng khi bạn có chánh niệm và do đó trí tuệ hơn, bạn có thể thấy rằng nó không quan trọng đến thế. Cuối cùng thì chẳng có gì quan trọng.

Vậy khi chúng ta không có chánh niệm, chúng ta nghĩ rằng điều mình đang trải nghiệm bây giờ là chuyện sống hay chết.

Và vì vậy một số người tự tử vì họ nghĩ rằng vấn đề quá lớn. Nên họ cố giải quyết vấn đề bằng cách tự sát. Gần đây, một người hỏi tôi rằng tự tử có phải là một quyết định tốt không. Tôi nói: "Tự sát không bao giờ giải quyết được vấn đề gì."

Cô ấy muốn giải quyết một vấn đề, và cô ấy nghĩ rằng bằng cách tự sát, cô ấy sẽ giải quyết được vấn đề. Nhưng tự sát không bao giờ giải quyết được vấn đề gì. Vậy khi bạn không có chánh niệm, cảm xúc lấn át tâm bạn, và bạn không thể tìm ra giải pháp tốt nào.

Vì vậy, bạn cần phải rất có chánh niệm. Đừng để cảm xúc điều hành cuộc đời bạn. Cảm xúc thì không sao, nhưng đừng để cảm xúc điều hành cuộc đời bạn. Hãy tỉnh giác. Hãy chánh niệm về cảm xúc của mình.

Có rất nhiều câu hỏi. Đây là một câu hỏi hay. Đức Phật có nghe được lời cầu nguyện của chúng ta không, nhất là khi chúng ta đến với Ngài lúc có vấn đề?

Vâng, tất nhiên, khi chúng ta có vấn đề, chúng ta muốn tìm sự giúp đỡ từ ai đó. Chúng ta muốn xin giúp đỡ, điều đó là tự nhiên.

Và thế là chúng ta đến với Đức Phật và cầu nguyện: "Đức Phật ơi, xin giúp con giải quyết vấn đề."

Nhưng nói thật với bạn, Đức Phật đã chứng nibbāna và nhập nibbāna. Vì vậy, Ngài sẽ không nghe những lời cầu nguyện của bạn.

Và bởi vì Đức Phật sẽ không lắng nghe lời cầu nguyện của bạn, Ngài sẽ không nghe được lời cầu nguyện của bạn và sẽ không thể

giải quyết vấn đề cho bạn.

Vậy chúng ta làm gì khi có vấn đề? Đức Phật đã cho chúng ta phương pháp

để thực hành, để chúng ta có thể giải quyết bất cứ vấn đề nào trong đời mình. Đức Phật chỉ cho chúng ta phương pháp.

Đức Phật không cho chúng ta giải pháp nào.

Vậy chúng ta không thể đến với Đức Phật và xin giúp đỡ để giải quyết mọi vấn đề của mình. Nhưng nếu chúng ta thật sự thực hành điều Đức Phật dạy, chúng ta sẽ phát triển

trí tuệ, và trí tuệ của chúng ta sẽ giải quyết vấn đề. Chỉ có trí tuệ của chính mình mới có thể giải quyết vấn đề. Vậy nên phát triển trí tuệ là rất quan trọng. Nếu bạn không phát triển trí tuệ, bạn sẽ phải đối diện với các vấn đề mỗi ngày trong đời mình. Và mỗi lần có vấn đề, bạn không thể đến với Đức Phật và xin Ngài giải quyết vấn đề cho bạn.

Vậy điều tốt nhất chúng ta có thể làm là thực hành điều Đức Phật dạy và trở nên chánh niệm hơn, trí tuệ hơn, và do đó tự giải quyết được vấn đề của mình. Và khi chúng ta trở nên chánh niệm hơn và trí tuệ hơn,

một điều thật tuyệt vời xảy ra với bạn.

Và bạn biết không? Phần lớn các vấn đề của bạn chỉ đơn giản là biến mất.

Điều này thật sự đúng, bởi vì phần lớn chính chúng ta tạo ra vấn đề.

Phần lớn chúng ta chịu trách nhiệm cho những vấn đề trong đời mình, nhưng chúng ta không thấy điều đó.

Vậy nếu bạn cứ tiếp tục tạo ra vấn đề, và nếu bạn đi xin ai đó giải quyết vấn đề cho mình, thì điều đó thật không phải là trí tuệ. Vậy điều này là thật. Đây là kinh nghiệm của tôi, và đây cũng là kinh nghiệm của nhiều người khác thực hành thiền trong đời sống hằng ngày.

Tôi biết từ kinh nghiệm của chính mình rằng khi tâm tôi trở nên chánh niệm hơn, tĩnh lặng và an bình hơn, tôi càng ít vấn đề hơn.

Bởi vì tôi có thể thấy rằng suy nghĩ của tôi, những cái thấy sai của tôi, những mong đợi sai của tôi, những thái độ sai của tôi, cách hành xử sai của tôi, những hành vi xấu của tôi

đang tạo ra vấn đề.

Thật vậy, điều này là thật. Vậy khi tôi thấy tâm mình và dừng lại

gây ra vấn đề, và khi tôi thấy thái độ của mình sai và sửa lại thái độ, khi tôi thấy rằng

cách tôi nói với người khác không đúng và sửa lại, cách tôi đối xử với người khác, cách tôi nói với người khác, và cứ như vậy, khi tôi thấy lỗi của mình và sửa lỗi của mình, khi tôi ít mắc lỗi hơn, thì tôi nhận ra rằng tôi có ít vấn đề hơn. Và những ngày này, rất khó để

thấy rằng, ờ,

rất khó để có vấn đề lớn.

Không còn vấn đề lớn nữa. Chỉ có những vấn đề nhỏ.

Vậy vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta là gì?

Các bạn cảm thấy rất, rất không hạnh phúc về điều gì?

Các bạn có thể trả lời không, bất cứ câu trả lời nào? Vấn đề lớn nhất đến từ đâu?

Nguồn gốc của vấn đề nằm ở trong tâm. Nhưng khi chúng ta có vấn đề, phần lớn là về một người nào khác.

Có đúng vậy không?

Điều làm bạn bất hạnh nhất là mối quan hệ của bạn với người khác. Nếu quan hệ của bạn với người khác, ờ, tốt đẹp, thì những vấn đề khác chỉ là nhỏ.

Vậy nên rất quan trọng là phải có thái độ chân chánh khi chúng ta quan hệ với người khác, với cha mẹ mình. Có thể bạn không vui về cha mình hoặc về mẹ mình, về cách họ đối xử với bạn. Có thể bạn không vui về người bạn đời của mình, về cách người ấy cư xử, hoặc có thể không vui về bạn bè mình hay bất cứ ai. Phần lớn chúng ta cảm thấy bất hạnh vì mối quan hệ với người khác, đặc biệt là với những người mình yêu thương.

Vậy khi chúng ta có những vấn đề như vậy, chúng ta cần tìm xem làm sao cải thiện thái độ của chính mình, làm sao cải thiện tâm của chính mình. Bởi vì chúng ta không thể đi sửa lỗi của người khác. Điều đó thật sự không thể được. Chúng ta có thể sửa lỗi của chính mình nếu chúng ta thấy được lỗi và nhận lỗi và tự sửa mình.

Vậy đó là một loại sức mạnh, thấy được lỗi của chính mình và sửa lỗi của chính mình làm chúng ta cảm thấy thật sự mạnh mẽ. Nếu bạn không thấy được lỗi của mình và nếu bạn không sửa được lỗi của mình, thì bạn cảm thấy rất yếu ớt.

Vậy nếu bạn không muốn có nhiều vấn đề trong đời sống, điều tốt nhất bạn có thể làm là hãy chánh niệm nhiều hơn. Chánh niệm nhiều hơn về thái độ của bạn, những mong muốn của bạn, sự tức giận của bạn, sự bất mãn của bạn, những trạng thái tâm của bạn, và cố gắng, ờ, phát triển những trạng thái tâm cao hơn.

Bất cứ trạng thái tâm cao hơn nào: mettā, lòng thương, sự hiểu biết, sự tha thứ, chánh niệm, định, trí tuệ. Vậy càng phát triển những phẩm chất tốt trong tâm, bạn sẽ thấy rằng mình có ít vấn đề hơn. Vậy phần lớn vấn đề của bạn, có thể 90% vấn đề của bạn, sẽ tan biến.

Còn 10% còn lại, bạn có thể chịu đựng được. Bạn có thể ứng phó được, và bạn có thể tiếp tục làm việc. Bạn có thể tiếp tục làm việc để vượt qua những vấn đề đó. Nhưng những vấn đề về thân của bạn sẽ không mất hẳn.

Ngay cả Đức Phật đôi khi cũng bị bệnh, và có vị y sĩ chữa trị cho Ngài. Ngay cả các vị Arahant đôi khi cũng có vấn đề về thân, nhưng không có vấn đề về tâm.

Vậy nên vấn đề tâm lý, vấn đề tinh thần, vấn đề cảm xúc thì nghiêm trọng hơn. Vấn đề sức khỏe thân thể, thì cũng quan trọng và nghiêm trọng,

nhưng không nghiêm trọng như những vấn đề về tâm.

Và câu hỏi tiếp theo ở đây là, Sayadaw có thể chia sẻ kinh nghiệm cá nhân không? Sayadaw có thấy Đức Phật trong giấc mơ hay trong kinh nghiệm nào khác trước đây không?

Thì,

Tôi không thấy Đức Phật trong giấc mơ. Không phải Đức Phật thật. Nhưng Đức Phật mà tôi tưởng tượng thì ở trong tâm tôi. Đức Phật mà tôi hiểu thì ở trong tâm tôi. Vậy tôi rất thích nghĩ về Đức Phật, vì sau khi tôi học giáo pháp của Đức Phật, và đặc biệt là sau khi tôi học thiền, và khi tôi kinh nghiệm được một tâm tĩnh lặng, an bình và thanh tịnh, tôi nghĩ: "Ngay cả tâm của tôi

cũng trở nên tĩnh lặng, an bình và thanh tịnh như vậy."

So với tôi, tâm của Đức Phật hẳn phải tĩnh lặng và thanh tịnh và trong sạch hơn nhiều, nhiều lắm

và an bình hơn. Vậy khi bạn kinh nghiệm sự tĩnh lặng, sự an bình và sự thanh tịnh, và cũng khi bạn kinh nghiệm sự sáng rõ của cái thấy và cái hiểu, khi bạn kinh nghiệm trí tuệ hay tuệ giác, thì bạn biết rằng trí tuệ của Đức Phật hẳn phải cao hơn rất, rất nhiều.

Sự thanh tịnh của Đức Phật hẳn phải trong sạch hơn nhiều. Sự tĩnh lặng và an bình của Đức Phật hẳn phải sâu hơn nhiều và tĩnh lặng hơn và an bình hơn. Rồi bạn thật sự cảm thấy, ờ,

sự tôn kính và ngưỡng mộ và thương yêu và lòng biết ơn và tất cả những điều đó

đối với Đức Phật. Vậy Đức Phật mà tôi biết thì ở trong tâm tôi. Chỉ khi bạn hiểu Đức Phật, chỉ khi bạn kinh nghiệm sự tĩnh lặng, an bình, thanh tịnh và trí tuệ sáng rõ, bạn mới có thể hiểu được phần nào bản chất của Đức Phật. Vì vậy Đức Phật nói: "Chỉ ai hiểu Dhamma, chỉ ai thấy Dhamma mới thấy Ta."

Đức Phật nói vậy. Nếu bạn không hiểu Dhamma, nếu bạn không thực hành Dhamma, nếu bạn không kinh nghiệm Dhamma, thì cái bạn hiểu là Đức Phật sẽ chỉ như một con người, một chúng sinh, một người có thân. Bạn chỉ có thể tưởng tượng cái thân. Vậy nên vào thời Đức Phật, một số người rất dính mắc với Đức Phật, kể cả các vị tỳ khưu,

muốn được ở gần Đức Phật. Vậy họ tìm một chỗ nơi họ có thể thấy Đức Phật, và họ chỉ ngồi đó và ngắm Đức Phật, thật sự thích thú khi thấy Đức Phật. Tất nhiên, tôi cũng sẽ thật sự cảm thấy hạnh phúc nếu tôi có thể thấy Đức Phật. Ai cũng vậy. Bởi vì chỉ đọc về những phẩm chất của Đức Phật, chỉ đọc về dung mạo của Đức Phật

và tưởng tượng Ngài sẽ như thế nào cũng đã làm cho người ta cảm thấy rất hạnh phúc.

Vậy nhưng, thấy Đức Phật bằng mắt thì không phải thật sự thấy Đức Phật chân thật. Bởi vì Đức Phật chân thật, bạn không thể thấy bằng mắt.

Để thật sự thấy Đức Phật chân thật, bạn chỉ có thể thấy qua kinh nghiệm Dhamma của mình, qua kinh nghiệm Dhamma của bạn. Vậy nếu bạn thật sự muốn thấy Đức Phật, hãy thực hành. Và với sự thực hành của bạn, khi bạn kinh nghiệm được sự thật về những gì Đức Phật dạy, thì bạn sẽ thấy Đức Phật.

Thì, đây là một câu hỏi rất hay. Và tôi nghĩ đây là một câu hỏi thường gặp. Phần lớn mọi người đều muốn hỏi cùng câu hỏi này.

Câu hỏi là: "Thưa Sayadaw, cảm ơn Ngài đã dạy chúng con. Con đồng ý với những gì Ngài nói. Thật không may, từ nhỏ con đã có tập quán dễ lo lắng và bất an." Hừm.

"Điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe chung của con." Tất nhiên, nếu bạn lo lắng quá nhiều, nếu bạn quá bất an, nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn. Những trạng thái tâm bất thiện có ảnh hưởng rất tai hại đến thân của bạn. Và ngày nay, người ta đã làm nhiều nghiên cứu y học ở phương Tây, đặc biệt ở Mỹ, chứng minh rằng bất cứ ý nghĩ bất thiện nào

cũng có thể có ảnh hưởng rất tai hại đến thân của bạn.

"Con yếu, dễ mệt, và thường không ngủ được ngon." Tôi nghĩ đây là vấn đề rất thường gặp ngày nay. "Con thấy thiền khó. Xin Ngài chỉ dạy làm sao con có thể vượt qua vấn đề này và bắt đầu hành thiền?"

Hừm.

Có thể lúc mới bắt đầu thì thiền khó.

Thật ra nó không khó. Thiền rất đơn giản.

Chẳng hạn như,

tôi bắt đầu thực hành thiền

bằng cách chỉ ngồi 10 phút. Và người thầy dạy tôi thực hành thiền không phải là một vị tu sĩ.

Ông là một nhạc sĩ và cũng là người làm nhạc cụ. Hồi đó tôi rất thích âm nhạc, và tôi học nhạc. Cho nên

ông trở thành thầy tôi, vừa là thầy dạy nhạc, vừa là thầy dạy thiền. Buổi chiều tôi đến nhà ông và học nhạc với ông. Sau giờ học nhạc, ông bảo tôi ngồi xuống và hành thiền. Tôi đồng ý và ngồi với ông. Ông bảo tôi thở sâu, thở mạnh, vì ông nói: "Cả ngày con bận rộn nên tâm con rất dao động.

Vì vậy, nếu con thở nhẹ nhàng, con sẽ không thể chú ý đến hơi thở được vì nó quá nhẹ.

Cho nên hãy thở sâu và chú ý đến hơi thở." Thế là tôi làm như vậy. Tôi ngồi và hành thiền. Tôi thở sâu, dĩ nhiên điều đó không tự nhiên. Nhưng thở sâu trong 10 phút và chú ý vào hơi thở làm tâm tôi khá an tịnh. Sau đó ông nói: "Bây giờ con thở tự nhiên và chú ý đến hơi thở."

Tôi cũng thử làm như vậy. Vì tâm tôi đã tương đối an tịnh hơn, nên tôi có thể chú ý đến hơi thở tự nhiên. Tôi ngồi như thế thêm 5 hay 10 phút nữa. Rồi ông nói: "Hãy chú ý đến toàn thân." Tôi chú ý đến toàn thân và cảm thấy cả thân đang rung động với năng lượng.

Cho nên khi bạn ngồi thiền và thở sâu,

bạn nhận được nhiều oxy, và điều đó cho bạn nhiều năng lượng. Tôi cảm thấy rất nhiều năng lượng trong thân mình.

Thế là tôi rất thích thú. Tôi không biết gì nhiều về thiền. Tôi không mong đợi điều gì cả.

Tôi chỉ làm những gì thầy tôi bảo làm. Không phải vì tôi muốn giác ngộ. Vì hồi đó tôi không biết điều đó nghĩa là gì. Và tôi cũng không muốn giác ngộ.

Nhưng tôi thương thầy tôi vì ông là một người rất tốt, rất có đức hạnh, rất chân thật.

Và ông thực hành Dhamma. Cho nên, vì lòng thương kính thầy, mỗi lần đến nhà ông tôi đều hành thiền với ông.

Vậy nên rất đơn giản. Điều chính yếu là sự sẵn lòng hành thiền, và cả sự hứng thú nữa. Nếu bạn hứng thú với điều gì, dù ban đầu có khó, bạn cũng sẽ không bỏ.

Và nếu bạn cứ tiếp tục hành thiền, dần dần nó sẽ dễ hơn. Mọi việc đều khó trước khi trở nên dễ. Vậy điều bạn cần là sự sẵn lòng thật sự và sự hứng thú.

Chúng ta thở từ khi sinh ra, và sẽ tiếp tục thở cho đến khi chết. Chúng ta thở suốt. Nhưng vì không chú ý, nên ta không biết là mình đang thở. Khi bạn chú ý, bạn biết mình đang thở. Thở vào, thở ra. Tâm bạn sẽ ở với hơi thở vài giây lát, rồi

chưa kịp biết thì bạn đã bắt đầu nghĩ chuyện khác. Không sao cả.

Nhưng khi bạn hay biết rằng mình đang suy nghĩ, bạn chú ý đến cái suy nghĩ đó, suy nghĩ, suy nghĩ, rồi trở về với hơi thở. Cứ tiếp tục làm như vậy.

Vậy hãy thực hành mọi lúc, mọi nơi. Dù bạn đang làm gì, ở đâu, đang ngồi thế nào, dù bạn đang ngồi, đang đứng hay đang đi, hãy chú ý đến một điều gì đang xảy ra trong thân. Và điều đơn giản nhất là hơi thở, vì nó luôn ở với bạn.

Nếu bạn cứ làm như vậy suốt ngày, không chỉ khi ngồi thiền mà suốt cả ngày, dù bạn ở đâu, có thể đang đi xe buýt hay đi MRT, hay đang làm việc ở công ty, mỗi khi bạn hay biết, hãy chú ý đến hơi thở. Nếu bạn cứ tiếp tục thực hành, dần dần sati của bạn sẽ mạnh hơn, samādhi của bạn sẽ mạnh hơn.

Và khi sati và samādhi mạnh hơn, việc thực hành thiền của bạn sẽ càng lúc càng dễ hơn.

Câu hỏi tiếp: "Vấn đề là con không thể tập trung và quan sát tâm khi con yếu và mệt." Vậy thì bạn có thể chú ý ngay đến cảm giác mệt. Bạn làm được không?

Bất cứ điều gì bạn cảm nhận, bạn kinh nghiệm, đều có thể và nên là

đối tượng của việc thực hành thiền. Bất cứ điều gì bạn cảm nhận, dù là đau đầu hay căng thẳng,

bất cứ cái đau nào, cảm giác nào bạn cảm nhận, đều nên và đều có thể là đối tượng của việc hành thiền. Cho nên thiền là thực hành chú ý, bất kể là gì.

Chỉ chú ý thôi là thiền. Nên bạn có thể chú ý đến cảm giác mệt, đau đầu, hay căng ở cổ, hay bất cứ điều gì bạn cảm nhận ở ngực, ở bụng, ở chân, ở bàn chân. Bất cứ điều gì bạn cảm nhận, hãy chú ý. Đó là thiền.

Và đây là câu hỏi mà tôi nghĩ mình đã trả lời rồi, nhưng dù sao tôi cũng sẽ trả lời lại. "Thưa Sayadaw, có những cách nào, hay chúng con làm gì để giảm bớt các chướng ngại trong tâm?" Chướng ngại trong tâm nghĩa là

bất cứ loại ham muốn, tham lam nào, bất cứ loại sân hận, thù ghét hay bực bội nào, bất cứ ý nghĩ ganh tị, đố kỵ nào, hay bất cứ sự so sánh nào.

Đó là những chướng ngại.

Cách duy nhất để giảm bớt và cuối cùng vượt qua tất cả những chướng ngại này là chú ý, là hay biết chúng. Nên khi bạn hay biết mình đang có một loại ham muốn nào, một loại tham nào, chỉ cần chú ý thôi là cái tham hay ham muốn đó sẽ yếu đi.

Bạn càng chú ý thì ham muốn càng yếu đi. Nên cách duy nhất là chú ý. Vì vậy Đức Phật đã nói trong kinh Mahāsatipaṭṭhāna Sutta, kinh Niệm Xứ, trong bài kinh đó Đức Phật nói: "Ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo sattānaṃ visuddhiyā."

Visuddhi nghĩa là trở nên thanh tịnh. Trở nên thanh tịnh nghĩa là thoát khỏi tất cả những chướng ngại này. Đức Phật nói "Ekāyano." Eka nghĩa là một. Ayana nghĩa là con đường, đạo lộ. Ekāyano nghĩa là một con đường, tức là con đường duy nhất. Đây là con đường duy nhất. Ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo.

Maggo cũng nghĩa là con đường. Vậy đây là con đường duy nhất.

Đây là pháp hành duy nhất có thể dẫn đến thanh tịnh, nghĩa là vượt qua các chướng ngại.

Không có cách nào khác để làm điều đó. Có một cách, một giải pháp tạm thời, là chuyển hướng tâm mình. Chẳng hạn, một số người nói rằng khi bạn ghét ai đó, hãy rải mettā.

Đôi khi nó có tác dụng, nhưng phần lớn là không.

Nhưng đôi khi cũng có cách khác. Khi tôi nổi sân với ai, tôi nghĩ: "Người ấy rồi sẽ chết, và tôi cũng sẽ chết."

Vậy nổi giận thì có ích gì? Điều đó có khi cũng giúp được. Khi mình biết rằng cả hai chúng ta, tất cả chúng ta rồi cũng sẽ chết, thì cách nào đó vấn đề trở nên nhỏ hơn, không còn quan trọng nữa. Một cách khác là thấy rằng không có ai ở đó cả, chỉ có các tiến trình tâm và thân. Chỉ là những tiến trình.

Không có ai ở đó, không có ai ở đây. Ai giận ai?

Vậy là không có ai nổi giận. Khi bạn thấy rằng không có ai ở đó, thì làm sao bạn có thể nổi giận được? Nhưng điều này khá khó. Điều này cần rất nhiều trí tuệ.

"Chúng ta có còn tiến bộ trong thiền được không nếu chúng ta khó giảm bớt các triền cái của tâm?" Được.

Bởi vì như bạn biết, một người đã chứng đạt tầng giác ngộ đầu tiên vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tham. Người đó thoát khỏi một loại tham nào đó, chứ không phải toàn bộ tham. Người đó thoát khỏi một loại sân nào đó, chứ không phải toàn bộ sân.

Vậy nên bạn không cần phải hoàn toàn thoát khỏi tất cả những triền cái này.

Chỉ cần thấy rằng đây chỉ là những triền cái, ví dụ như khi bạn có bất cứ mong muốn nào, bạn thấy rằng đây là mong muốn,

một tiến trình tự nhiên, một trạng thái tâm, nghĩa là cái này không phải là tôi, không phải là bản thân tôi, không phải là của tôi. Khi bạn thấy rằng mong muốn chỉ là mong muốn, không phải là một con người, đó là một sự tiến bộ.

Vậy thấy được rằng mong muốn chỉ là mong muốn là một sự tiến bộ. Dù mong muốn vẫn còn xảy ra,

bạn đã có tiến bộ nào đó. Thấy được rằng sân chỉ là sân, không phải là một con người, chỉ là một trạng thái tâm sinh lên rồi diệt đi, đó là một sự tiến bộ. Thấy được rằng sân không luôn luôn có mặt, chỉ khi nào đối tượng, đối tượng của tâm, chuyện đã xảy ra, ý nghĩ đó

sinh lên, thì mới có sân. Khi chúng ta không nghĩ về điều làm ta khó chịu, chúng ta không giận. Nhưng ngay khi ta bắt đầu nghĩ về điều làm ta giận, ta cảm thấy giận.

Vậy nên khi bạn thấy được

tiến trình tự nhiên và kết quả tự nhiên đó sinh lên rồi diệt đi, bạn không còn xem nó quá nghiêm trọng. Và đó là tiến bộ. Nên chúng ta vẫn có thể tiến bộ dù chúng ta chưa

giảm bớt được các triền cái.

Nhưng khi bạn thấy rằng mong muốn chỉ là mong muốn, không phải một con người, thì bạn đã đang giảm bớt một triền cái rồi, đó là tà kiến. Bởi vì khi bạn nghĩ rằng mong muốn là một con người, nghĩa là tôi muốn, tôi ham, và chính tôi là người muốn, thì đó là một loại tà kiến.

Nhưng khi bạn chú ý và thấy rằng mong muốn chỉ là mong muốn, không có ai ở đó, thì bạn đã vượt qua được một triền cái, đó là tà kiến.

Và đây là một câu hỏi khác. "Thiền có giúp cải thiện sức khỏe tổng quát không, chẳng hạn như

giảm căng thẳng, miễn nhiễm với ung thư? Những lợi ích của thiền là gì?" À, để trả lời câu hỏi đó sẽ mất nhiều giờ, vì lợi ích của thiền thì rất nhiều.

Lợi ích đầu tiên của thiền là sự an tĩnh, sự bình an. Bởi vì sự tỉnh giác làm bạn cảm thấy an tĩnh hơn, bình an hơn.

Do đó, khi tâm bạn an tĩnh hơn và bình an hơn, bạn không quá mệt mỏi và căng thẳng. Bạn có nhiều năng lượng hơn.

Tỉnh giác, định cho bạn sự sáng rõ. Tâm bạn trở nên sáng rõ hơn. Bạn thấy rõ hơn. Bạn hiểu sâu hơn.

Vậy nên lợi ích của thiền là vô số. Tôi đã làm một danh sách

nghĩ rằng một ngày nào đó tôi sẽ nói một bài pháp về những lợi ích của thiền, vì tôi sẽ cần vài giờ

để

giải thích chi tiết những lợi ích của thiền. Nên để câu trả lời của tôi ngắn gọn và đi vào trọng tâm, vâng,

thiền giúp cải thiện sức khỏe tổng quát.

Nó giúp bạn ngủ ngon hơn.

Vâng, nhiều người hành thiền chỉ vì họ muốn ngủ được. Và tôi cũng đã làm vậy. Và tôi vẫn còn làm vậy. Bởi vì có khi, vì tôi thích suy nghĩ nhiều, nên những ý nghĩ thú vị đến trong tâm tôi và tôi cứ suy nghĩ mãi. Và đã khuya rồi.

Bởi vì những ý nghĩ đến với tôi thú vị đến nỗi tôi không ngủ được. Vì vậy tôi rửa sạch ý nghĩ đó và nói: "Thôi, đủ rồi."

Và tôi hành thiền. Và tự nói với mình rằng tâm tôi đang an tĩnh và tôi muốn đi ngủ.

Khi tâm tôi trở nên an tĩnh, tôi chú ý đến trạng thái tâm đó, sự an tĩnh. Khi tâm tôi trở nên bình an, tôi chú ý đến trạng thái tâm đó, sự bình an. An tĩnh, bình an, yên lặng. Và điều này rất quan trọng. Khi tôi chú ý đến sự yên lặng trong tâm, nó trở nên yên lặng hơn. Bởi vì khi chúng ta nói, ý tôi là, khi chúng ta suy nghĩ, chúng ta đang nói trong tâm.

Và khi chúng ta đang suy nghĩ trong tâm, tâm không yên lặng. Nó khá ồn ào, vì có sự lải nhải bên trong, nói, nói, nói trong tâm. Nó không yên lặng. Nên khi tôi biết được cái nói trong tâm đó, tôi rửa sạch nó và nó ngừng lại. Khi nó ngừng lại, có sự yên lặng. Nên tôi chú ý: yên lặng.

Khi tôi chú ý đến sự yên lặng, nó trở nên yên lặng hơn. Rồi ngủ.

Vậy nên bất cứ việc gì bạn làm, nếu bạn chú ý, sẽ có sự cân bằng hơn.

Miễn nhiễm với ung thư. Vâng, nó cải thiện sức đề kháng của bạn. Khi bạn hành thiền, cơ thể bạn sản sinh một loại hormone được gọi là endorphins.

Endorphins. Chữ này ở dạng số nhiều vì có ba loại endorphin khác nhau mà cơ thể sản sinh. Nó gọi là endogenous. Đó là một chữ ghép, hai chữ ghép lại. Endogenous morphines. Bạn biết chữ morphine nghĩa là gì không?

Có một loại thuốc tiêm mà bác sĩ cho những bệnh nhân đang trải qua cơn đau cực độ không thể kiểm soát được bằng thuốc giảm đau thông thường. Nó là dẫn xuất của

thuốc phiện. Và endogenous nghĩa là sản sinh từ bên trong. Vậy cơ thể bạn sản sinh morphine. Thật tuyệt phải không?

Thật tuyệt. Nên khi bạn hành thiền, khi tâm trở nên an tĩnh, cơ thể sản sinh nhiều endorphins hơn. Nhưng nó không giống như thuốc tiêm kia. Bởi vì thuốc tiêm đó làm bạn cảm thấy ít tỉnh giác hơn, ít chánh niệm hơn. Nó làm bạn cảm thấy buồn ngủ và lờ đờ.

Nhưng endogenous morphine, tức là endorphins, làm bạn cảm thấy an tĩnh và bình an, nhưng vẫn giữ cho bạn tỉnh táo.

Và khi cơ thể có mức endorphin cao hơn, nó kích thích sức đề kháng, hệ miễn dịch của cơ thể. Nó làm tăng sự sản xuất tế bào B và tế bào T, các tế bào miễn dịch. Có nhiều loại tế bào miễn dịch khác nhau, tế bào trợ giúp, tế bào ức chế, và tế bào sát thủ.

Tế bào sát thủ thì tiêu diệt các tế bào khác

hoặc bất cứ loại

sinh vật nào xâm nhập vào cơ thể bạn. Cho nên khi tế bào trong cơ thể

biến đổi, tôi nói thế nào nhỉ? Trở thành tế bào ung thư, hệ miễn dịch phát hiện ra và tiêu diệt nó. Nên khi sức đề kháng của bạn cao hơn,

nó có thể tiêu diệt các tế bào ung thư.

Và ngày nay có những bác sĩ ở Mỹ dạy thiền cho bệnh nhân ung thư.

Và họ đã chứng minh được, tất nhiên là về mặt thống kê, không phải ai cũng

vượt qua được bệnh ung thư. Nhưng có

bằng chứng thống kê cho thấy những người hành thiền có cơ hội hồi phục từ ung thư cao hơn. Điều này đã được chứng minh bằng thống kê. Vì vậy, bây giờ có nhiều

bệnh viện nơi các bác sĩ dạy bệnh nhân hành thiền. Và có một cuốn sách do một bác sĩ tên là Dr. John Kabat-Zinn viết. Ông làm trưởng khoa

trưởng khoa

của

khoa y học hành vi tại Massachusetts Medical Center.

Đó là một đại học giảng dạy và cũng là bệnh viện. Và ông viết một cuốn sách tên là Full Catastrophe Living.

Và tựa phụ của cuốn sách là Overcoming Pain, Illness, and Stress by Using the Wisdom of the Body and Mind.

Đó là một cuốn sách rất thú vị. Và bạn sẽ được lợi ích khi đọc cuốn sách đó, ai đã đặt câu hỏi này. Nên không có gì nghi ngờ rằng hành thiền có thể cải thiện sức khỏe của một người. Không chỉ sức khỏe. Hành thiền có thể cải thiện chất lượng sống của bạn trong mọi phương diện. Nó còn có thể cải thiện việc học của bạn.

Nó còn có thể cải thiện việc kinh doanh, công việc của bạn. Nó có thể cải thiện sức sáng tạo của bạn.

Nó có thể cải thiện các mối quan hệ của bạn, vì bạn tỉnh giác hơn. Bạn không nói những điều làm tổn thương người khác.

Nên nếu bạn thật sự muốn một đời sống tốt hơn, một điều bạn thật sự có thể làm là hành thiền, để tỉnh giác hơn về các trạng thái tâm của mình.

Và đây cũng là một cách biểu lộ tình thương của chúng ta đối với chính mình. Nếu bạn thật sự thương mình, hãy hành thiền. Không chỉ vậy, chính Đức Phật khuyên chúng ta rằng nếu bạn thương ai, hãy khuyến khích, dạy và giúp người đó thực hành chánh niệm,

đó là điều tôi đang làm.

Thật vậy, điều tốt nhất bạn có thể làm cho một người khác là giúp người đó tỉnh giác hơn về các trạng thái tâm của mình, về suy nghĩ của mình. Bởi vì khi bạn tỉnh giác hơn về những suy nghĩ của mình,

tự nhiên nó sẽ đi theo hướng tích cực hơn. Vì sự tỉnh giác luôn giúp một người trở nên tích cực hơn. Bản thân sự tỉnh giác là tích cực. Khi cái tích cực và bất cứ trạng thái tâm tiêu cực nào đến cùng nhau, trạng thái tâm tiêu cực sẽ đi, nó sẽ trở nên yếu hơn.

Sự tỉnh giác càng mạnh, các trạng thái tâm tiêu cực càng yếu.

Và càng

các trạng thái tâm tiêu cực của bạn yếu đi, bạn càng cảm thấy ít căng thẳng.

Và bạn sẽ càng cảm thấy rằng khi tâm có chánh niệm, an tịnh,

bạn cảm thấy được nghỉ ngơi hơn. Vì sự an tịnh rất là nghỉ ngơi. Nên mỗi khi tôi cảm thấy mệt, tôi cố gắng có chánh niệm hơn. Và khi tôi có chánh niệm hơn, tôi cảm thấy được nghỉ ngơi.

Vậy các trạng thái tâm tiêu cực không cho bạn nghỉ ngơi chút nào. Nó đang thúc đẩy bạn.

Nên khi bạn muốn nghỉ ngơi, hãy hành thiền.

"Chúng ta có thể hành thiền mà không có thầy không?" Có, được. Nhiều người vẫn làm vậy. Và câu hỏi thứ hai là, điều đó có nguy hiểm không? Nếu bạn thực hành sai cách, thì có nguy hiểm. Nhưng sai cách nghĩa là gì? Và đúng cách nghĩa là gì?

Nếu bạn hiểu hành thiền là gì, bạn không thể thực hành sai được.

Hành thiền là chú tâm. Bạn có thể phạm lỗi khi chú tâm được không? Nó không tạo ra cái gì cả. Nếu bạn cố tạo ra một trạng thái nào đó, bạn có thể phạm lỗi.

Vậy hành thiền là chú tâm. Bất cứ điều gì bạn cảm nhận, bạn chú tâm vào, và nó không thể sai được. Bạn sẽ không phạm lỗi. Nhưng nếu bạn cố tạo ra một trạng thái nào đó, có thể bạn sẽ phạm lỗi. Và nếu bạn mong đợi điều gì không tự nhiên, không đúng đắn, và với sự mong đợi đó mà bạn hành thiền, nó có thể làm lệch tâm bạn.

Nó có thể làm méo tâm bạn. Vậy đừng mong đợi điều gì. Nhưng bạn có thể mong đợi một điều. Đó là, tôi muốn biết điều gì đang xảy ra trong thân hay trong tâm tôi bây giờ. Bạn muốn biết. Đó là điều duy nhất bạn mong đợi.

Nếu bạn không mong đợi điều gì khác

ngoài việc muốn thấy điều gì đang xảy ra trong thân hay trong tâm bạn bây giờ, và bạn chú tâm, thì bạn không bao giờ có thể phạm lỗi. Và nó không nguy hiểm. Nhưng nếu bạn muốn tạo ra bất cứ hình ảnh nào

hoặc nếu bạn mong đợi điều gì, thì chính sự mong đợi đó có thể

làm méo tâm bạn và làm lệch tâm bạn. Nó có thể có hại. Tôi không thể đi vào chi tiết vì

thêm nhiều câu hỏi mà không đủ thời gian.

À, đã 9 giờ 30 rồi. Thời gian trôi nhanh quá. Không thể tin được.

Tôi muốn tiếp tục trả lời các câu hỏi. Làm sao đây? À, Chủ nhật sẽ có một buổi pháp thoại.

Và tôi hy vọng

sẽ trả lời thêm một số câu hỏi vào Chủ nhật.

Nhưng tôi biết rằng sẽ còn nhiều câu hỏi hơn nữa và sẽ không đủ thời gian.

Lúc nào cũng vậy, thời gian là vấn đề. Không đủ thời gian là vấn đề.

Cho nên

thật vui khi được gặp quý vị

hôm nay ở đây

và trả lời các câu hỏi của quý vị.

Theo lời dạy của Đức Phật, và đó cũng là sự thật, luân hồi rất dài. Chúng ta đã sống rất nhiều, rất nhiều kiếp,

vô số kiếp. Và Đức Phật dạy rằng, không có ai mà chưa từng là cha, là mẹ, là anh, là chị em của quý vị.

Vì vậy nghĩ như thế, tôi muốn nói rằng tất cả quý vị đều là anh em, chị em của tôi.

Và chúng ta có mặt ở đây là nhờ Dhamma.

Tôi thích nói về Dhamma. Và quý vị thích nghe Dhamma. Vì vậy chúng ta cùng ở đây. Chúng ta có cùng những giá trị. Và điều đó thật tuyệt vời. Thật là một cảm giác tuyệt vời khi được cùng nhau ở đây, nói về Dhamma, nghe Dhamma. Và tôi muốn chia sẻ thêm kinh nghiệm của tôi, những gì tôi đã học được.

Và tôi cũng muốn nghe những gì quý vị đã học được. Bởi vì chúng ta có thể học lẫn nhau. Quý vị có thể chia sẻ kinh nghiệm của mình và tôi cũng có thể học từ quý vị.

Vậy là tôi đã chia sẻ một số kinh nghiệm của mình, và tôi rất vui vì quý vị đã cho tôi cơ hội chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của tôi.

Và vì thế, tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Cho nên, xin cảm ơn quý vị.

Xin chân thành cảm ơn Sayadaw vì những lời dạy quý báu. Thưa quý anh chị em, Sayadaw sẽ ở lại Singapore đến thứ Sáu tuần tới, ngày 28 tháng 6. Chủ nhật này lúc 7 giờ tối tại chùa này, ngài sẽ có một buổi pháp thoại nữa về Kinh Hạnh Phúc (Mangala Sutta). Xin mời quý vị đến dự.

Còn những ngày khác, nếu quý vị có câu hỏi, quý vị có thể đến thăm Sayadaw tại địa chỉ này. Nếu quan tâm, xin ghi lại. Block 101, Bukit Batok West Avenue 6, Hex 11-30.

Và xin đến sau 5 giờ chiều. Gọi điện trước khi đến. Số điện thoại là 666-50-243.

Vâng, chỉ có vậy thôi. Và Chủ nhật này, buổi lễ buổi sáng của chúng ta sẽ do huynh Sebastian Wong của chùa Palerai hướng dẫn. Nếu quý vị quan tâm, xin mời đến dự. Xin cảm ơn.

Thiền sư Sayadaw U Jotika sinh ngày 05.08.1947 trong một gia đình Hồi Giáo ở Miến Điện. Thời niên thiếu Ngài được gia đình gửi học và được giáo dục trong một trường dòng Thiên chúa giáo, tốt nghiệp kỹ sư điện tử và nghiên cứu sâu rộng về khoa học, tâm lý học, triết học phương Tây.…

Bài khác trong khóa